Nhà thơ FRED MARCHANT
- Thứ tư - 04/04/2012 09:22
- |In ra
- |Đóng cửa sổ này
Nhà thơ FRED MARCHANT
Cuốn sách thơ gần đây nhất của Fred Marchant là The Looking House (Graywolf Press, 2009) được Barnes và Noble Review nhận xét là một trong năm cuốn sách thơ hay nhất trong năm 2009. Ông cũng là tác giả của Tipping Point, giành giải thưởng Washington về thơ ca năm 2003 và Full Moon Boat (Graywolf Press, 2000). Một tuyển tập thơ mới của ông có tên House on Water (Nhà trên nước), House in Air (Nhà trên không), đã được nhà xuất bản Dedalus, Dublin, Irlend xuất bản trong năm 2002. Fred Marchant cũng là đồng dịch giả (với Nguyễn Bá Chung) cuốn Từ góc sân nhà em của nhà thơ Trần Đăng Khoa, xuất bản năm 2006 tại Hà Nội. Ông cũng là biên tập viên của Another World Instead: Những bài thơ đầu tiên của William Stafford, 1937-1947 (Graywolf Press, 2008), một tuyển tập những tác phẩm ông sáng tác khi ông là người phản đối Thế chiến II.
Ông là giáo sư tiếng Anh và Giám đốc của Chương trình Viết Sáng tạo và Giám đốc Trung tâm Thơ tại Đại học Suffolk ở Boston. Tốt nghiệp cao học ở Đại học Brown, ông có bằng Tiến sĩ của Đại học Chicago, Ủy ban Tư tưởng xã hội. Ông là một giảng viên lâu năm ở Trung tâm William Joiner chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả xã hội tại Đại học Massachusetts-Boston. Ông đã dậy tại các cuộc hội thảo trên khắp đất nước, trong đó có The Frost Place, và là người đồng giành giải thưởng (với Afaa Michael Weaver) May Sarton của câu lạc bộ thơ New England Club, giải thưởng được trao cho những nhà thơ mà "tác phẩm của họ là một nguồn cảm hứng cho các nhà thơ khác".
Huế, trong đêm
Tại đàn Nam Giao
Tại đàn Nam Giao
Đôi khi tôi nghĩ Huế là trung tâm của vũ trụ
hàng nghìn cặp mắt đang dõi theo chúng tôi ở đây
Cặp kính kín đáo của vầng trăng giữa đám mây
Cặp mắt nóng rực của bó hương
đang cắm vào đá.
Cặp mắt phóng đại của khoảnh sân nơi vua đi dạo,
nơi những phiến đá vang lên hùng tráng.
Cặp mắt nghi ngờ của người đàn bà đang cầu nguyện bên thềm tối.
Cặp mắt mờ mịt của ánh đèn pha.
Và ánh lập lòe của những ngọn nến được thả trên sông.
Cặp mắt của những người không còn ở đây nữa.
Và cặp mắt sống động của những người là bạn tôi.
Kỷ nguyên Việt Nam
Năm 1959 anh 13 và dậy
sớm hơn anh có thể nghĩ, biết rằng
những con chim chẳng có ý nghĩa gì
với anh, rời nhà sớm
với cái bụng trống rỗng để phát tin tức,
lờ đi lời cảnh báo của mẹ
về sự buồn ngủ, đánh bật người cha
đang đầy mồ hôi ra ngoài cửa,
để nhảy lên chiếc xe đạp cơ quan
và đạp thẳng đến nhà ga
nơi những tờ báo Globes và Heralds ([1]) đang đợi
để được cuộn lại và chất lên
chiếc giỏ kim loại, chiếc túi vải.
Hãy để những người khác đi
câu cá: anh đi khắp thành phố
chưa có tên trên bản đồ, một khu vực hiện ra
trên những tít báo và giao thông. Anh đang giảm cân và
tiết kiệm tiền để đi học. Những tờ báo
anh ném đi anh tưởng tượng như
lựu đạn, vẵnhng hành lang nơi lựu đạn
rơi xuống bùng nổ thành đám lửa,
thổi những cô gái nhỏ bay
thẳng vào cánh tay của anh,
vũ khí đã nhuốm những vết đen của mình
từ những việc làm đầy máu của thế giới,
cuộc chiến của bản thân anh chỉ còn 7 năm nữa là kết thúc.