Nhà thơ Bàng Sỹ Tân

TCNV- Nhà thơ Bàng Sĩ Tân sinh năm 1926 tại Hà Nội, trong một gia đình nho học có truyền thống. Vào những năm trước cách mạng tháng Tám ông học tiếng Pháp Latinh, chữ Hán, viết văn, làm thơ. Ông học ở trường Thăng Long và hoạt động trong các tổ chức tuyên truyền chủ nghĩa Mác ở Hà Nội. Cha ông là một nhà nho được ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng cách mạng, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đã cho cả đàn con theo Đảng theo Bác để đấu tranh giành lại non sông. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhà thơ Bàng Sĩ Tân là cán bộ thanh niên khu Việt Bắc, hoạt động phong trào văn nghệ tuyên truyền ở Việt Bắc. Ông đã có nhiều tiểu phẩm kịch thơ tự biên tự diễn trước công chúng trong thời kỳ kháng chiến để tuyên truyền tinh thần yêu nước tại Việt Bắc, và dạy văn hóa ở tiểu đoàn Nam Hà, vì giỏi tiếng Pháp nên đã có thời gian Đảng cử ông làm thông dịch cho hàng binh.
Vào những năm 1964 đến năm 1976 ông có những tác phẩm thơ in trên báo Văn Nghệ, tác phẩm mới của Hội Nhà văn in trên Văn nghệ quân đội và Tạp chí Sông Châu Hà Nam. Ông mất năm 1977 tại Hà Nội. Ông là em trai thứ 5 của các nhà thơ: nhà thơ Bàng Bá Lân, nhà thơ, họa sĩ dịch giả Bàng Thúc Long, nhà thơ, họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên. Đây là chùm thơ trong bút tích của ông mà cháu gái ông là nhà thơ, họa sĩ Bàng Ái Thơ còn lưu giữ lại được. Xin trân trọng gửi tới bạn đọc.



WÀNG SÉO PAI

Giữa nơi hút gió đèo heo
Đường lên khúc khuỷu tai mèo đá đen
Si- ma- cai lối nhỏ men
Chân leo đã mỏi đường lên còn dài
 
Bỗng nghe tiếng cối nhà ai
Thấp thoáng sau một đám mai đã già
Thác ào nước chảy đổ qua
Trên lưng cối nặng theo đà chày vang
Tiếng thình thịch giã thóc vàng
Mái nhà chênh chếch đường sang ven rừng
 
Gặp cỏ quẩy nước xinh xinh
Mắt như nai nhỏ dáng hình ngây thơ
Lên đây núi vắng trời lơ
Thương người thăm đất, thẫn thờ nhìn sang
Ấm sao tiếng nói nhẹ nhàng
Đừng uống nước chảy giữa đàng mà đau
Xin vào nghỉ đỗ đêm thâu
Ngày mai nắng ửng lại leo thăm ngàn
 
Em đi dẫn, bước dừng hoang
Nơi đây chẳng có xóm làng chi đâu
Trời đêm sương uớt mái đầu
Trăng ru khuya khoắt tìm đâu lửa đèn
Giúp cho mấy đĩa dầu đong
Giúp đưa mấy buổi đi lên đỉnh ngàn
 
Đưa chân xuống núi ân cần
Em cho tên thật họ Wàng Séo Pai.
 
 


Người cũ sông Thương
 
 
Ngày nào trên bến sông Thương biếc
Nắng vàng trải ấm vạt đê nghiêng
Đôi dòng lờ lững trong gió lặng
Ánh mắt ai trao phía cuối chiều
Bên sông người vắng cây đổ bóng
Soi ánh tàn rơi lửa chiến tranh
Bắc Giang loang lổ mầu tiêu thổ
Người đi trong vẳng tiếng chuông cầu
Bóng đò lặng lẽ sào cắm đợi
Có cô lái trẻ ngắm đôi bờ
Ràn rạt chèo đêm khua nước lạnh
Vượt bến này bộ đội về, đưa
Cô gái quên mình trong cóng giá
Quên lửa hồng reo ấm mái nhà
Bao nhiêu lượt lượt đò quay lái
Nụ cười hồn hậu mênh mang quê
Chèo đưa bộ đội lên Việt Bắc
Bên kia dòng Đuống bốt đồn san
Lòng cô hướng chờ ngày thắng lợi
Gặp người thương trong khúc khải hoàn
Niềm tin ẩn mắt xanh trong trẻo
Lớp lớp người về giữa sóng hồng
Sông Thương cô lái rời bến lạnh
Nước vẫn đôi dòng dạ bâng khuâng
 
 

Thương về Mẹ
 
Con đi nghĩa nước gọi lòng son
Có dịp về thăm mẹ chẳng còn
Bốc xương đưa mẹ sang đất mới
Con đi thôi trở lại thăm nom
 
Dân tộc làm sao thoát xiềng gông
Con đi theo tiếng gọi của lòng
Bóng mẹ liêu xiêu trong chiều tiễn
Câu nào con để mẹ ấm lòng
Lòng Đảng lòng dân luống hờn căm
Chiến tranh ôi cửa nát nhà tan
Nuôi con đủ lớn đi kháng chiến
Dặm đường rong ruổi chốn xa xăm
Mỗi khi nỗi nhớ về bên mẹ
Nhìn mỗi vì sao lại khóc thầm
 
Một cơn đau ốm ai ngờ được
Thân mẹ gầy hao sức nhược vong
Mẹ đi vào giữa mùa xuân nở
Dẫy bàng phủ lộc tiễn mẹ cùng
 
Từ chiến khu xanh về bên mẹ
Dưới dệ đồi hoang nơi mẹ nằm
Đánh dấu thay bia nắm đá dăm
Nén hương nguội dần trong ly biệt
Gửi mẹ nằm trong lớp đá cằn
Tạ mẹ con đi vì non nước
Đắp mồ cho mẹ, sỏi đồi lăn
Đất này cầu mẹ nghỉ bình an
Ơn nhờ hàng xóm với dân làng
Con đi bao giờ con trở lại
Dãi nắng dầm mưa mẹ tủi hờn
 
Con viết bài thơ cho trọn nghĩa
Thế thôi cũng tạm đạo làm con
Tháng hai, mười tám ngày giỗ mẹ
Tán bàng phố Kép lại xanh rờn
Đốt nén hương vàng con vái vọng
Mẹ nhận thành tâm chứng lòng con.