Có nhà văn Việt Nam nổi tiếng đã viết như vậy trong một tiểu luận, nặng lời gọi đa số sách thiếu nhi là “những cuốn sách do người lớn hạ cố viết cho trẻ em”, còn những giờ văn ở mái trường phổ thông là “những giờ học thầy ngắc ngứ trò ngắc ngứ”.
TCNV Online- Có biết bao người đã từng qua Sa Pa. Đã có biết bao người đã từng ước muốn đến Sa Pa. Rất nhiều trong số đó, hiển nhiên, trong cảm thức thông thường, coi Sa Pa là vùng đất đẹp, lí tưởng để nghỉ ngơi. Nhưng đến với tác phẩm của Nguyễn Thành Long, điều tưởng như hiển nhiên đã thay đổi. Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và lo nghĩ như vậy cho đất nước. Những con người ấy là ai? Anh kĩ sư làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, ông kĩ sư ở vườn sau, đồng chí nghiên cứu khoa học thiết lập bản đồ sét,...
Cám ơn nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, với một bài thơ lục bát không dài, một thể loại thơ truyền thống rất Việt Nam đã cho đem đến những người yêu thích thơ ca được thưởng thức một tuyệt phẩm, vừa để tỏ lòng tri ân với đức tổ Hùng Vương, vừa nhắc nhở muôn đời con cháu luôn phải biết hướng về nguồn cội như các cô gái trên xóm núi Thậm Thình xưa./.
TCNV Online- Trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có hình ảnh con người khủng hoảng niềm tin một cách sâu sắc. Sự khủng hoảng niềm tin ấy có lẽ đã trở thành nét tâm lý chung thuộc về thời đại - thời đại mà Nguyễn Gia Thiều sống và sáng tác. Đó là giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, giai đoạn rệu rã của ý thức hệ Nho giáo. Mọi trật tự tôn ti sụp đổ, mọi giá trị lộn nhào. Chưa bao giờ con người cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, mất phương hướng như bấy giờ.
Bản chất của văn chương là “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chế Lan Viên là một trường hợp như thế, ông không làm nhiều thơ tình nên Tình ca ban mai là trường hợp đặc biệt hiếm hoi. Đúng theo cái bản chất coi trọng chất lượng chứ không coi trọng số lượng. Đây là một bài thơ tình đặc sắc, không chỉ so với chính các sáng tác của ông mà còn so với các sáng tác về tình yêu của các nhà thơ khác. Bài thơ hay vì nhiều yếu tố như: cấu tứ, mạch cảm xúc, hệ thống tín hiệu…
Tapchinhavan.vn-Trong số các thi nhân thời Thơ mới (1932-1945) có lẽ không mấy người có số phận ai oán, nghiệt ngã như Hàn Mặc Tử. Vận mệnh cay đắng của thi sĩ như được tiên báo trước qua ý nghĩa từng bút danh mà người con gần cả cuộc đời gắn bó với vùng đất Quy Nhơn đầy nắng và gió đã mang trước đó: Phong Trần (gió bụi), Lệ Thanh (tiếng của nước mắt), Hàn Mặc Tử (người đi trong màn lạnh). Người thơ ấy với nỗi lòng quặn thắt “trải niềm đau trên giấy mong manh” ấy để lại cho đời nhiều thi phẩm bất hủ, trong đó có Đây thôn Vĩ Dạ.
Bài thơ Lượm trong tập thơ Việt Bắc được đưa vào Sách giáo khoa nhiều năm nay, đã rất quen thuộc với giáo viên và học sinh trường phổ thông. Văn bản bài thơ này in trong cuốn Thơ Tố Hữu – Nhà xuất bản giáo dục -1995 trang 240 được Tố Hữu ghi rõ là viết năm 1949. Trong hồi kí Nhớ lại một thời, ở cả hai lần in- Nxb Hội nhà văn – năm 2000 trang 260, NxbVHTT năm 2002 trang 200, Tố Hữu lại cho biết: ông viết bài thơ này vào năm 1952 khi dự Hội nghị Trung ương lần thứ 3 ngày 21 tháng 1 năm 1952 “ Chính trong Hội nghị Trung ương lần thứ 3 này một đồng chí ở Thừa Thiên ra kể cho tôi nghe về những tấm gương chiến đấu dũng cảm ở quê nhà và cho tôi biết tin về cháu Lượm”
Tapchinhvan.vn- Tre gần gũi với con người trong lao động sản xuất hàng ngày. Từ đôi quang, chiếc đòn gánh, cán cuốc, tay hái, tay liềm, cối xay, dần, sàng, thúng, mủng... Sống với ruộng đồng, bờ bãi, rặng tre, người dân đã đúc rút rất ý vị: Cánh đồng ta năm đôi ba vụ/ Tre với người vất vả quanh năm. Tre thành vật dụng dựng cửa, dựng nhà, dựng nên mái ấm. Tre thành nôi êm ru giấc trẻ trưa hè. Tre thành nguồn vui cho trẻ thơ từ chiếc thuyền lá tre đến que chuyền đánh chắt, cánh diều, chiếc sáo.