Nhà thơ Czeslaw Milosz.
Kỉ niệm 100 năm ngày sinh Czeslaw Milosz, Quốc hội Ba Lan đã thông qua nghị quyết, công bố 2011 là Năm Czeslaw Milosz. Bảo trợ năm kỉ niệm này còn có: UNESCO, Nghị viện Châu Âu, Quốc hội Litva, Bộ Ngoại giao Ba Lan. Ngoài việc xuất bản sách, sẽ tổ chức hàng loạt hội nghị, hội thảo, triển lãm,... về Czeslaw Milosz tại Krakow, Paris, Nữu-Ước, San-Francisco, Litva vv... Tại thành phố Krakow, Ba Lan, từ ngày 9 đến 15 tháng 5 năm 2011 đã diễn ra Liên hoan Czeslaw Milosz với sự tham gia của đông đảo các nhà thơ, nhà văn, dịch giả, các nhà khoa học Ba Lan và thế giới. Chủ nhật 26 tháng 6 năm 2011, tại Trường Đại học Wilno, Litva, đã tổ chức trọng thể lễ gắn biển kỉ niệm nhà thơ nhân dịp 100 năm ngày sinh của ông. Czeslaw Milosz từng là sinh viên học tại trường đại học này.
Czeslaw Milosz sinh ngày 30 tháng 6 năm 1911 tại Sztejnie, Litva, là con trai cả của ông Aleksander Milosz - kĩ sư cầu đường và bà Weronka. Nơi chôn rau cắt rốn, cuộc sống yên bình ở làng quê đã có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời sáng tác của nhà thơ. Rất nhiều thi phẩm của ông mang dấu ấn của thời niên thiếu và thời trai trẻ ở Litva. Milosz là con nhà dòng dõi quý tộc nhiều đời.
Thời thơ ấu nhà thơ tương lai đã cùng bố mẹ bôn ba khắp đó đây. Năm 1913 họ đến vùng châu Á Krasnoj, sau đó lại trở về Nga, bởi cha ông được gọi gia nhập quân đội nước này. Năm 1917 tại Rzewa chú bé Milosz đã được đích mục sở thị cuộc Cách mạng tháng Mười. Những kỉ niệm của thời đó được khắc hoạ rất nhiều trong các tác phẩm sau này của ông. Chẳng hạn trong tiểu thuyết Thung lũng Issa, trong tập tiểu luận Châu Âu gia đình, và nhất là trong tiểu sử của mình do nhà thơ tự viết với tiêu đề: Chân dung tự hoạ bướng bỉnh của Czeslaw Milosz. Nhà thơ cũng đã nói đến những sự kiện trên và những năm tháng sống bình yên ở làng quê trong tập thơ chiến tranh Cứu vớt và trong tập Trên bờ sông in năm 1994. Thời thơ ấu với những kỉ niệm không bao giờ phai mờ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sáng tác của Milosz.
Năm 1918 ông lại trở về sinh sống tại Sztejnie. Năm 1921 ông là học sinh của trường Gimnazjum mang tên Zygmunt August. Năm 1929 ông theo học văn học Ba Lan tại Khoa Xã hội học Trường đại học Stefan Bator ở thành phố Vilnius (Litva), sau một thời gian ngắn ông chuyển sang học luật khoa học xã hội. Năm 1930 ông viết bài cho tạp chí đại học Alma Mater Vilnensis, những bài thơ đầu tay của ông như tác phẩm và cuộc hành trình được đăng trên tạp chí này. Năm sau đó ông đã tham gia đêm tác giả do Hội Nhà văn Ba Lan ở Vilnius tổ chức, cùng với các nhà thơ Teodor Bujnicki, Jerzy Zagorski và Kazimierz Halaburda. Cũng trong năm đó ông đã cùng các nhà thơ Stefan Zagorski và Stefan Jedrychowski sang thăm Paris. Lần đầu tiên ông gặp Oskar Milosz, người đã trở thành một biểu tượng vô cùng quan trọng trong sự nghiệp văn chương của ông. Sau khi thăm Paris, Milosz về thăm Warszawa và Trường Đại học Tổng hợp Warszawa với tư cách là một sinh viên, tiếp đó ông quay về Vilnius.
Cũng trong thời gian này tạp chí Zagary ra đời. Milosz là thành viên của nhóm các nhà thơ Zagary và cũng là một trong những người đồng sáng lập tạp chí cùng tên này. Nhiều bài thơ tiếp theo của Milosz lần lượt được công bố trên Zagary.
Năm 1933 cuốn sách đầu tay của của Milosz có tiêu đề Trường ca về thời đông kết được xuất bản. Năm 1934 tác phẩm này đã được tặng Giải thưởng Filomat của Hội Nhà văn Ba Lan ở Vilnius. Cũng trong năm đó ông nhận bằng tốt nghiệp Khoa Luật và lại sang Paris, nhưng lần này với tư cách là người được Quỹ Văn hoá dân tộc cấp học bổng. Tại đây ông lại gặp Oskar Milosz và những người là hậu duệ của dòng tộc mình.
Năm 1935 Milosz trở về làm việc tại Đài phát thanh Ba Lan ở Vilnius. Đó là thời kì cực kì khó khăn về phương diện chính trị đối với Ba Lan. Các tổ chức cực hữu ngày càng lớn tiếng. Sau một năm làm việc ông bị sa thải khỏi Đài phát thanh vì tư tưởng tự do và đánh giá các hiện tượng văn hoá theo viễn cảnh mỹ học. Cũng chính trong thời gian này đã hình thành nền tảng thế giới quan thi ca của nhà thơ, nền tảng cho phép chúng ta, giữa vô vàn biến đổi, giờ đây nhìn lại sự nghiệp của Milosz một cách đồng bộ. Năm 1936 tập thơ Ba mùa đông được ấn hành. Trong tập thơ này người đọc đã có thể nhận ra giọng điệu trữ tình đầy tính cách Milosz. Trong Ba mùa đông chủ nghĩa tai hoạ đã hiện hình rõ nét. Milosz mở đường đi đến với các nhà phê bình và bạn đọc không chỉ ở thành Vilnius. Cuốn sách đã có tiếng vang sâu rộng, được các nhà phê bình văn học hàng đầu thời đó hết lời ngợi khen. Trên thực tế Ba mùa đông là một thành công của nhà thơ trẻ Milosz, trở thành một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học Ba Lan.
Năm 1937 nhà thơ sang Italia, sau khi về nước ông chuyển đến ở Warszawa và lại làm việc tại Đài phát thanh Ba Lan. Trong năm cuối cùng trước Chiến tranh thế giới II Czeslaw Milosz đã gặt hái được nhiều thành qủa trong lĩnh vực văn xuôi. Truyện ngắn Tính sổ của ông đã được nhận Giải thưởng văn học “Pion” (Dây dọi).
Tháng chín năm 1939 Milosz ra mặt trận với tư cách là cán bộ đài phát thanh. Khi Hồng quân vào đất Ba Lan thì nhà thơ sang Rumani. Tháng giêng năm sau ông trở về Vilnius, khi Hồng quân chiếm Litwa ông về Warszawa. Ông tích cực tham gia hoạt động văn học bí mật tại thủ đô bị chiếm đóng. Dưới bút danh Jan Syruc ông cho in cuốn sách có tiêu đề Những vần thơ. Đây cũng là tập thơ bí mật đầu tiên của Warszawa bị chiếm đóng được công bố.
Năm 1942 ông làm chủ biên tuyển tập thơ Bài ca bất khuất gồm những bài thơ ái quốc vô cùng quan trọng đối với các phong trào bí mật ở Warszawa. Thời kì chiến tranh cũng là thời kì ông không dừng tay bút và thành quả của ông đã được thể hiện trong tập Cứu vớt in sau chiến tranh.
Sau thất bại của cuộc nổi dậy Warszawa (tháng 10 năm 1944), nhà thơ về Goszyce và năm 1945 về ở tại Krakow. Tại đây ông là người chứng kiến những biến đổi lịch sử to lớn về phương diện xã hội và văn hoá được ông gọi là “Kết cục châu Âu”, cái được ông miêu tả thoạt tiên trong tác phẩm nổi tiếng của mình Trí tuệ bị cưỡng bức, và sau này trong tiểu thuyết Giành chính quyền. Trong thời gian này Milosz trở thành một trong những biên tập viên của nguyệt san “Sáng tạo” và xuất bản cuốn Cứu vớt, một tập thơ đồ sộ, gồm những bài tác giả viết trước và trong chiến tranh, tập thơ có ý nghĩa cực kì to lớn đối với nền văn hoá Ba Lan.
Trong các năm 1945 - 1951 Czeslaw Milosz là cán bộ Bộ ngoại giao Ba Lan. Ông đã từng đảm nhiệm các cương vị tùy viên văn hoá Cộng hoà Nhân dân Ba Lan tại Nữu ước, sau đó tại Paris. Năm 1948 ông in tập Hiệp ước tinh thần, nhấn mạnh trách nhiệm của con người đối với lịch sử.
Những năm năm mươi Milosz sống lưu vong tại Pháp, hợp tác với Viện Văn học do Jarzy Giedroycie phụ trách. Những cuốn sách tiếp theo của ông được xuất bản trong thời gian này. Cuốn Trí tuệ bị cưỡng bức - gồm những bài phê bình tiểu luận ông viết rải rác trong nhiều năm đã mở đường cho ông đến với châu Âu và độc giả Hoa Kì, làm rạng rỡ tên tuổi của ông. Trí tuệ bị cưỡng bức phân tích kĩ lưỡng những biến đổi lịch sử của châu Âu thời đó.
Cũng trong năm 1953 tập thơ Ánh sáng ban ngày và cuốn tiểu thuyết Giành chính quyền được xuất bản. Tiếp đó, năm 1955 ông cho in Thung lũng Issa và Hiệp ước thi ca, tập thơ được nhận giải thưởng văn học của tạp chí “Văn hoá”.
Năm 1958 , năm xuất bản các cuốn Châu Âu gia đình và Các lục địa, Czslaw Milosz được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Ba Lan ở hải ngoại.
Năm 1960 nhận lời mời của các trường đại học Caliornia và Indian ông sang Hoa kì. Với cương vị giáo sư ông giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ và Văn học Slavơ của Trường đại học tổng hợp Berkeley và tại Harvard. Làm việc tại trường đại học Milosz có cơ hội truyền bá văn hoá Ba Lan, nhất là thi ca. Ngoài những cuốn sách tiếp theo (1962 - Vua Popiel và các bài thơ khác, Con người giữa bầy bọ cạp, 1965 - Gucio bị bỏ bùa) năm 1965 ông cho xuất bản Tuyển tập thơ Ba Lan bằng Anh ngữ ( Postwar Polish Poetry) do chính ông tuyển chọn và dịch, một tập thơ có ý nghĩa cực kì quan trọng trong sự nghiệp văn chương của ông. Bằng cách như vậy Milosz đã mở đường cho các nhà thơ Ba Lan, trong đó có Zbigniew Herbert đến với thế giới. Những nỗ lực nghiên cứu và truyền bá văn học Ba Lan của ông còn được thể hiện trong cuốn sách phi thường sau đó, xuất bản năm 1969: The History of Polish Literature. Cuốn sách này đã trở thành người phát ngôn quan trọng của văn học Ba Lan và dư âm của nó vẫn còn vang vọng cho đến bây giờ, nhất là đối với các thế hệ các nhà khoa học thế giới cũng như trong nước.
Cũng trong năm 1969 tập thơ Thành phố không tên và cuốn phê bình tiểu luận Ảo ảnh trên vịnh San Francisco được ấn hành. Còn năm 1972 ông cho xuất bản tập phê bình tiểu luận có tiêu đề Nghĩa vụ riêng tư. Cho đến năm 1973 Czeslaw Milosz được thế giới biết đến chủ yếu với tư cách nhà văn và nhà phê bình chứ không phải nhà thơ. Tuy nhiên năm 1973 hình ảnh của ông bắt đầu thay đổi khi ông cho in tập thơ chọn đầu tiên bằng tiếng Anh - Selected Poems. Kể từ đây con đường ông đến với công chúng trên thế giới hoàn toàn rộng mở. Tiếp đó trong các năm 1977 -1978 ông cho in liên tiếp hai tập thơ bằng tiếng Anh: Poems và Bell in Winter.
Tiếng tăm của Czeslaw Milosz ngày càng lừng lẫy. Năm 1974 (năm ông cho xuất bản tập thơ quan trọng: Mặt trời mọc ở đâu và lặn ở nơi nào) ông được nhận giải thưởng Ba Lan - PEN Club tặng thưởng cho ông vì đã có công dịch thơ Ba Lan sang tiếng Anh. Các phần thưởng thế giới đã giành cho ông gồm có: Giải thưởng Guggenheima năm 1976, tiến sĩ danh dự Đại học Michigan năm 1977, Giải thưởng văn học quốc tế mang tên Neustadt và Berkeley Citation - phần thưởng cao nhất của Đại học California.
Milosz còn bỏ nhiều công sức dịch các sách thánh kinh và các tác phẩm của Sêcxpia.
Thành qủa văn học to lớn và giá trị của Czeslaw Milosz đã đưa ông tới đỉnh vinh quang - năm 1980 ông được Viện Hàn lâm Thụy Điển tặng Giải thưởng Nobel văn chương về toàn bộ sự nghiệp sáng tác của nhà thơ. Một năm sau đó ông về nước, các tác phẩm của ông được xuất bản chính thức. Ông được công nhận là tiến sĩ danh dự (doktorat honoris causa) của Trường Đại học Công giáo Lublin và Trường Đại học Jagielonski Krakow.
Năm 1993 Czeslaw Milosz về ở hẳn trong nước và ông đã chọn Krakow làm nơi thường trú, bởi theo ông thành phố này “rất giống thành phố Vilnius” ở Litva quê hương ông. Năm 1994 ông được tặng Huân chương Đại bàng trắng. Ông cũng đã được nhận Giải thưởng NIKE (Nữ thần chiến thắng), giải thưởng văn học hàng năm lớn nhất của Ba Lan. Ông được công nhận là công dân danh dự của Litva và của thành phố - cố đô Krakow.
Ông mất ngày 14 tháng 8 năm 2004 tại Krakow, thọ 93 tuổi.
Chùm thơ của Czeslaw Milosz, do dịch giả - nhà thơ Lê Bá Thự dịch:
Những thiên thần
Dù có tước đi xiêm y trắng toát,
Đôi cánh bay và cả sự sinh tồn,
Tôi vẫn tin các ngài,
Là những sứ giả nhà trời.
Ở nơi thế giới quay lưng về phía trái,
Tấm vải thêu thú vật, sao trời,
Các ngài thong thả dạo chơi,
Chiêm ngưỡng những đường thêu chân thành.
Cuộc dừng chân ngắn ngủi của các ngài ở nơi đây,
Chắc đến rạng đông, nếu trời quang mây tạnh,
Trong điệu nhạc được chú chim hát lại,
Trong hương thơm táo chín lúc chiều tà
Khi nắng vàng mang cho vườn phép thuật.
Người ta nói, có kẻ bịa ra các ngài
Chuyện tầm phào sao thuyết phục nổi tôi.
Vì con người, chứ ai,
Cũng bịa ra chính mình.
Giọng nói, đây là bằng cớ,
Bởi đó là giọng nói,
Của những sinh linh chẳng thể nghi ngờ,
Những sinh linh nhẹ nhàng, có cánh (sao lại không),
Chớp giật quấn quanh.
Đã nhiều đêm tôi nghe giọng nói này trong mộng
Và chuyện lạ lùng hơn, tôi hiểu và tôi rung động
Đó là mệnh lệnh, là tiếng gọi bằng ngôn ngữ siêu phàm:
Lát nữa thôi là ngày
vẫn còn một
và bạn hãy làm ngay
điều có thể.
Berkeley, 1969
Bài ca về ngày tận thế
Trong ngày tận thế
Ong mật lượn vòng trên hoa sen cạn,
Ngư phủ vá tấm lưới chài óng ánh.
Cá heo vui nhẩy trên biển xanh,
Chim sẻ non uống nuớc máng mát lành
Và rắn có da vàng như xưa nay vẫn vậy.
Trong ngày tận thế
Phụ nữ đội ô đi trên cánh đồng,
Gã say ngủ lăn quay ngay bên vạt cỏ,
Những người bán rau rao hàng trên phố
Chiếc thuyền buồm vàng bơi ra đảo nhỏ,
Tiếng vĩ cầm ngân vang trong không gian bao la
Và tan vào đêm trời đầy sao.
Những kẻ đợi chờ sấm chớp,
Có gì đâu mà nơm nớp.
Những kẻ chờ tín hiệu và kèn báo
của thống lãnh nhà trời,
Họ không tin chuyện xẩy ra rồi.
Khi mặt trời và mặt trăng đang hiện trên cao,
Khi ong mật đang đến với hoa hồng,
Khi trẻ con đỏ hỏn đang chào đời,
Chẳng kẻ nào tin, chuyện xẩy ra rồi.
Chỉ ông già tóc bạc khả dĩ là nhà tiên tri,
Nhưng không phải vậy,
Bởi lão có việc khác để thực thi,
Tay buộc chùm cà chua lão phán:
Sẽ chẳng có ngày tận thế khác đâu,
Sẽ chẳng có ngày tận thế khác đâu.
Warszawa, 1944
Niềm tin
Niềm tin có, khi ta nhìn thấy
Một chiếc lá bồng bềnh trên mặt nước,
một giọt sương
Và biết rằng, có chúng - vì cần.
Cho dù hai mắt nhắm nghiền, mơ ước,
Trên đời này chỉ còn những gì có trước,
Dòng sông kia vẫn đưa lá trôi xuôi.
Niềm tin lại có khi ta què chân vì đá
Và biết rằng trên đời này có đá
Là để làm què chân ta.
Hãy nhìn mà xem, cây thả bóng dài,
Và bóng ta, và bóng hoa in lên mặt đất:
Cái gì không có bóng, cái mất sức sinh tồn.
Hy vọng
Hy vọng đến, khi ta tin,
Trái đất chẳng là giấc mơ, mà là cơ thể sống,
Và rằng, thị giác, xúc giác , thính giác chẳng dối lừa.
Tất thảy những gì tôi biết,
Như một thửa vườn, bạn đứng xa ngoài cửa.
Không được vào. Nhưng đương nhiên có
Khi ta nhìn kĩ hơn và khôn hơn,
Vẫn còn không chỉ một ngôi sao
và một bông hoa mới
Trong thửa vườn thế giới
ta nhìn.
Có kẻ bảo rằng, mắt đánh lừa chúng ta
Và rằng chẳng có gì hết, do lầm tưởng mà ra,
Song chính họ là những người vô vọng.
Họ tưởng rằng, khi con người quay lưng lại,
Cả thế giới đàng sau ắt ngưng tồn tại,
Như bị bàn tay lũ trộm cướp đi rồi.
Lê Bá Thự dịch
Tác giả bài viết: Lê Bá Thự
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Những lá thư Tagore gửi hai người phụ nữ
Tình yêu không lời - Thơ TRƯƠNG THÔNG (Trung Quốc)
12 truyện mini chọn lọc
Đang truy cập :
9
•Máy chủ tìm kiếm : 2
•Khách viếng thăm : 7
Hôm nay :
4144
Tháng hiện tại
: 130610
Tổng lượt truy cập : 3692334