12:49 ICT Thứ tư, 22/05/2013

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình » Vấn đề

Tản mạn của một người viết nghiên cứu phê bình văn học

Thứ hai - 16/07/2012 09:50
Nhà văn Ngô Vĩnh Bình

Nhà văn Ngô Vĩnh Bình

Tapchinhavan.vn- Hỏi chuyện Nhà phê bình văn học - Đại tá Ngô Vĩnh Bình - Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.


 
Nhà văn Ngô Vĩnh Bình
 
PV: Được biết trước đây ông từng theo học lịch sử, có thể gọi ông là nhà sử học, nhưng  sau này chuyển sang viết văn, làm phê bình, vậy điều gì đã thúc giục ông đến với phê bình? Trong quá trình đến với phê bình ông có gặp nhiều khó khăn không?

Ngô Vĩnh Bình: Tôi vốn là dân sử, mà là dân Sử ĐH Tổng hợp Hà Nội, chỗ có “tứ trụ triều đình: Lâm, Lê, Tấn, Vượng” - bốn giáo sư hàng đầu của sử học nước nhà: Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng. Lứa sinh viên Khoa Sử ĐHTH Hà Nội những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, không chỉ tôi mà ai cũng tự hào vì được là học trò của các cụ ấy và đều mơ ước được là môn đệ của các thầy ấy... Nhưng chiến tranh đã khiến những ước mơ của nhiều người không thực hiện được. Đang là nghiên cứu viên ở Viện KHXH Việt Nam, tôi được lệnh nhập ngũ... Sau những năm tháng ắc ê ở đơn vị, tôi được điều lên làm công tác tuyên huấn ở một sư đoàn bộ binh. Công việc của anh lính tuyên huấn gần với báo, với văn hơn là làm nghiên cứu khoa học. Cứ thế ngày qua ngày, tôi trở thành người của làng báo lúc nào không biết nữa. Thấy tôi có bài trên báo đều đều, Tổng cục Chính trị điều về Văn nghệ Quân đội, lần lượt trở thành lính của các nhà phê bình Ngô Thảo, Hồng Diệu, Lê Thành Nghị (trước đó ban Phê bình lý luận của Tạp chí VNQĐ đã có Nhị Ca, Vương Trí Nhàn), rồi được vào Hội Nhà văn, ngành Lý luận phê bình văn học và trở thành người phụ trách phần Lý luận - Phê bình của tờ tạp chí. Nói tóm lại, là tôi đến với phê bình văn học một cách tình cờ. Cuộc đời đã đưa tôi đến với công việc này. Tôi... bị động, chứ không phải tôi chủ động đến với văn học, đến với phê bình văn học. Là bị động, tức là không được chuẩn bị nên khi tác nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Phải vừa học vừa làm, phải nhìn trước ngó sau và vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

PV: Đã là một nhà phê bình tất yếu phải có những quan điểm riêng, mỗi người có cách nhìn nhận khác nhau về phê bình. Tôi muốn biết quan niệm phê bình văn học của ông như thế nào?

Ngô Vĩnh Bình: Có người nói trận địa phê bình văn học đang hoàn toàn bị bỏ trống, thậm chí đang vỡ trận. Tôi cho rằng không phải vậy, dù rằng mấy năm lại đây phê bình văn học có phần tẻ nhạt, nhiều nhà phê bình "chính hiệu" đã quay lưng lại với văn chương đương đại, im lặng hoặc chuyển nghề "quét với kẻ biển", tô tượng nghĩa là trang điểm cho những tác phẩm những tác giả cổ điển mà trên thực tế không cần son phấn thêm nữa cũng đã đẹp rồi - như cách nói của nhà thơ Trần Đăng Khoa mới đây; và dù rằng đây đó có phê bình "bốc thơm", phê bình "cánh hẩu", phê bình "tiếp thị", phê bình xe lu, phê bình dao búa, phê bình chém đinh chặt sắt, phê bình cả vú lấp miệng em, phê bình xu phụ, phê bình quyền uy, phê bình quan phương...và nhiều nữa. Nói phê bình bị bỏ trống, bị vỡ trận thì vô tình chúng ta đã phủ nhận công sức của những nhà phê bình, những tờ báo đã phát hiện, đã quảng bá những hiện tượng văn học như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Nhật ký Nguyễn Văn Thạc... rồi Cánh đồng bất tận của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Quý Ly, Đội gạo lên chùa của nhà văn già Nguyễn Xuân Khánh...; và nói như vậy cũng là không công bằng với cố gắng của những cây bút phê bình văn học trẻ mà cá nhân tôi rất trân trọng như: Nguyễn Thanh Sơn, Lê Huy Bắc, Phạm Xuân Thạch, Hoài Nam, Hoàng Đăng Khoa... Tôi nói, bảo phê bình văn học gần đây là bị bỏ trống hoàn toàn, rất yếu và rất thiếu; thậm chí đang vỡ trận là chưa đúng; thêm nữa nó còn làm mất nhuệ khí của giới phê bình, đặc biệt là những cây bút phê bình trẻ - những đứa "con cầu tự", hiếm muộn của văn học Việt Nam hôm nay.
Tôi cũng không thích hai chữ “trận địa” khi nó đi liền với phê bình văn học, đi liền với văn chương bởỉ vì ngay cả thời chiến tranh ta còn “ vừa đánh vừa đàm”, huống chi bây giờ chiến tranh đã lùi xa! Nói vậy hoá ra là “thủ tiêu đấu tranh”? Không phải vậy. Tôi nghĩ rằng, “va chạm” vẫn có thể xảy ra trong “phê bình văn học của tôi” nếu đọc được một cuốn sách nào đó đi ngược lại với lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân; phủ nhận quá khứ hào hùng của cách mạng kháng chiến; cổ vũ chiến  tranh xâm lược, ủng hộ khủng bố; tuyên truyền mê tín dị đoan, hạ thấp phẩm giá con người...
Có người nói, “mà đối với phê bình ngại va chạm tức là không còn phê bình văn học nữa rồi”. Tôi cho rằng không phải vậy, bởi xưa nay không chỉ có một kiểu phê bình. Hải Triều một cây bút nổi danh vì những bài bút chiến, không ngại va chạm - là nhà phê bình, nhưng Hoài Thanh với một quyển sách toàn những dòng ngợi ca, chẳng hề va chạm với ai chả lẽ ông không phải là nhà phê bình?
Và, khi chúng ta quan niệm phê bình văn học là phải va chạm, phải "tả xung hữu đột", phải là một "trận địa" cũng đồng thời là đã không công bằng với các bậc tiền bối như Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Chế Lan Viên... khi các ông ngợi ca "những bạn văn trẻ" những giọng thơ mới, những tác phẩm "từ miền Nam gửi ra", những trang văn  của lứa "các nhà văn trung uý", nhà văn chiến sĩ viết trên báo liếp, báo trường, in trên các tờ tin xuất bản tại mặt trận và vượt qua mưa bom bão đạn để đến với bạn đọc. Tôi được biết chính những bài nặng tính chất bầu bạn, phát hiện, cổ xuý kịp thời ấy đã góp phần nuôi dưỡng, tạo dựng nên những tên tuổi của văn chương một thời, và về sau trở thành trụ cột của nền văn học mới, văn học cách mạng.
Tôi quan niệm phê bình văn học có muôn "nẻo đến", có vạn "nẻo về". Không thể chỉ có một kiểu phê bình văn học. Nói "ngại va chạm" không còn là phê bình nữa là không đúng, và cũng là phê bình quyền uy - một kiểu phê bình đã lạc thời, đã từng bị phê phán.
Tôi đã có lần nói, tôi rất thích những tràng vỗ tay nhưng tôi cũng rất sợ những tiếng vỗ tay không đúng chỗ và không đúng lúc.
Có người đặt câu hỏi, ai viết phê bình? Có người phân biệt phê bình hàn lâm, phê bình báo chí hay phê bình lý luận, phê bình thông tấn.
Tôi cho rằng, làm nghiên cứu, làm lý luận thì phải "hàn lâm". Vì thế nên các nhà nghiên cứu lý luận có học hàm học vị. Còn phê bình văn học là của mọi người, tôi rất tâm đắc với cái tên sách "Phê bình văn học của tôi" của một cây bút phê bình trẻ mấy năm trước. Phê bình văn học không phải là mảnh đất của riêng ai, không có chuyện độc quyền. Nhà phê bình là nhà văn, vì thế nên Hội Nhà văn mới có các hội viên làm công việc phê bình. Tôi quan niệm như vậy cho nên khi bàn về một nhà phê bình văn học tôi "nhìn" chủ yếu vào tác phẩm xem có thuyết phục không, có hay không? Chứ không quan tâm nhiều đến "trích ngang", đến thành phần xuất thân của anh ta.
Có người sẽ nói, phê bình của tôi như thế cũng là phê bình đắp lụa, phê bình tô tượng, phê bình quét vôi kẻ biển và là phê bình người tốt việc tốt, phê bình hoàn thành nhiệm vụ...
Tôi chấp nhận và thấy không cần thiết phải nói lại, phải nói thêm.

PV: Trong Nẻo vào văn học, ông sử dụng chủ yếu là phương pháp tiểu sử, phương pháp xã hội học Mác xít, phương pháp lịch sử xã hội. Điều tôi muốn hỏi là ông sử dụng những phương pháp đó như thế nào và ông quan niệm về nó như     thế nào?

Ngô Vĩnh Bình: Nẻo vào văn học là cuốn sách phê bình tiểu luận đầu tay của tôi. Thực ra khi viết tôi chẳng biết đến những cái gọi là phương pháp nọ, chủ nghĩa kia. Thích thì viết, được ban biên tập giao viết thì viết thôi. Khi đưa đi in, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên trong  lời bạt của cuốn sách có nói tôi đã dùng phương pháp phê bình tiểu sử, lấy cuộc đời người viết soi rọi lên tác phẩm của họ. Tôi mới... à ra vậy!. Tôi thì tôi cho rằng, làm nghiên cứu phê bình văn học, nhất là văn học sử, làm văn học sử, tìm hiểu tiến trình văn học Việt Nam khâu quan trọng nhất, khâu đầu tiên là tư liệu. Không có tư liệu, nhất là tư liệu quý hiếm, tư liệu mang tính phát hiện thì không thể “giải mã” được những hiện tượng của đời sống văn chương. Sau Nẻo vào văn học, tôi có in Một chặng đường văn, Chuyện thơ chuyện đời, Văn xuôi đề tài chiến tranh, Hoa đào năm ngoái... và sắp tới là Trăng và súng nếu bạn đã đọc, bạn sẽ thấy ngồn ngộn tư liệu mà theo tôi là có ích cho những người muốn tìm hiểu văn học Việt Nam hiện đại, nhất là đời sống văn học và tác gia văn học nửa sau thế kỷ XX.
PV: Tôi thấy đối tượng mà ông dành nhiều tâm huyết nhất là những người lính có công trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, ông viết về họ một cách rất hăng say. Hơn nữa ông lại viết về những người mà có người ông chưa từng gặp mặt, nhưng lại rất thật, rất sinh động. Tôi thấy công việc phê bình của ông chủ yếu là phê bình chân dung, nhìn từ tác giả để hiểu thêm về tác phẩm chứ ít khi nhìn ngược lại. Ông nghĩ sao với phê bình chân dung?
Ngô Vĩnh Bình: Đúng vậy, nhà thơ Trần Đăng Khoa khi còn công tác ở Văn nghệ Quân đội với tôi có nói, phê bình văn học của tôi là... phê bình đắp lụa. Tôi bảo, quá đúng vì tôi biết có một thời những người viết văn nhất là những nhà văn áo lính đã phải chịu quá nhiều hy sinh mất mát, có người đã “mất mọi thứ để nhân dân không mất” (thơ Phạm Tiến Duật) nên giờ, tôi - một người lính viết văn hậu sinh may mắn Được sống và kể lại (tên một tự truyện Trần Luân Tín) phải viết với tinh thần “thương biết mấy cho vừa” (thơ Nguyễn Đức Mậu). Tôi phê bình chân dung, phê bình tiểu sử, làm văn học tư liệu, in sách về các nhà văn - chiến sĩ như Hoàng Lộc, Trần Đăng, Thanh Tịnh, Chính Hữu, Vũ Cao, Duy Khán... bắt đầu từ những suy nghĩ rất đời, rất... nghiệp dư như vậy!

PV: Tôi thấy công việc của ông rất bận rộn, cùng một lúc làm nhiều nhiệm vụ, nhưng nhiệm vụ nào cũng hoàn thành. Vậy ông làm sao để thu xếp thời gian để làm phê bình, hơn nữa những công trình của ông thì đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, phải tốn nhiều thời gian truy tìm tư liệu?

Ngô Vĩnh Bình: (cười) Ngay từ khi mới nhập ngũ chúng tôi đã được quán triệt là phải “... nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua...” mà. Và, như trên đã nói, tôi may mắn được sống trong ngôi “nhà số 4” phố nhà binh , Hà Nội - trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi được xem là trụ sở Hội Nhà văn thứ hai, hơn 30 năm. Tôi đã được chứng kiến nhiều sự kiện, được sống làm việc với nhiều nhà văn tên tuổi (trong đó có những tên tuổi lớn như: Nguyễn Thi, Thanh Tịnh, Chính Hữu, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyên Ngọc), được nghe kể nhiều về các bậc tiền bối và được tiếp cận với nhiều tư liệu, hiện vật về các nhà văn...tức là “được sống và kể lại”. Tôi làm việc theo cả trách nhiệm cũng như ý thích nên thời gian không là còn là vấn đề!

PV: Vâng, xin cám ơn nhà văn!
 
Huế, tháng 5 năm 2012
Nguyễn Thị Hòa (thực hiện)



 
 

Nguồn tin: TCNV 07-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 44 trong 9 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn