18:27 ICT Thứ năm, 20/06/2013

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình » Vấn đề

Một số mô hình kết cấu trò chơi trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Thứ hai - 16/01/2012 13:34

NGUYỄN THỊ NINH
 
 
TCNV - Đến nay, lí thuyết trò chơi trong văn chương đã không còn xa lạ với văn học nước nhà. Nội dung chủ yếu của lí thuyết này nhấn mạnh: nghệ thuật vừa như là mô hình nhận thức cuộc sống thực, vừa như trò chơi cuộc sống. Tiếp thu tinh thần này từ văn học phương Tây, các nhà tiểu thuyết Việt Nam đương đại chủ trương biến sáng tác nghệ thuật thành trò chơi của các hình thức dẫn đến kết cấu tác phẩm cũng được tổ chức như trò chơi, có người chơi và luật chơi. Bên cạnh nhiều tác phẩm vẫn chung thủy với mô hình truyền thống, "cuộc chơi" của tiểu thuyết Việt Nam đương đại được thực hiện trên nhiều phương diện: chơi kết cấu, chơi nhân vật, chơi ngôn ngữ... Một trong những cách chơi kết cấu có xu hướng "thịnh hành" là giả làm theo khuôn mẫu của một loại văn bản hay thể loại tiểu thuyết nhất định. Các nhà văn một mặt mượn mô hình kết cấu của một loại văn bản hay một loại tiểu thuyết để tạo dựng tác phẩm y như khuôn mẫu của văn bản hay thể loại ấy, mặt khác, họ cố tình làm sai, làm trái hay phá chính khuôn mẫu ấy ở từng mắt xích. Kết quả là họ tạo ra những tiểu thuyết có vẻ bề ngoài giống như mô hình kết cấu của một loại văn bản hay thể loại tiểu thuyết nhất định nhưng thực chất chỉ chơi trò giả mạo. Sau đây là một số mô hình kết cấu giả mạo nổi bật.
 
1. Kết cấu giả tiểu sử
Tiểu sử là thân thế, sự nghiệp có thật của một người được trình bày một cách vắn tắt. Tiểu sử thường đề cập cụ thể đến năm sinh, năm mất, các sự kiện đáng chú ý trong cuộc đời của nhân vật theo trình tự thời gian tuyến tính.
Nhiều nhà văn đã mượn chất liệu tiểu sử và cách trình bày tiểu sử để làm trái khuôn thước tạo ra những gương mặt giả tiểu sử. Nguyễn Bình Phương mở đầu Thoạt kỳ thủy bằng một phần mang tên Tiểu sử như một sự cố tình định hướng để bạn đọc tin rằng tác phẩm sẽ viết về câu chuyện có thật của những con người có thật, có xuất xứ lai lịch rõ ràng. Nhưng ngược lại, tác giả cũng đánh động bằng mọi tín hiệu để bạn đọc nhận ra sự phi lí mà nghi ngờ tính xác thực của câu chuyện. Trong Thoạt kỳ thủy, tiểu sử của các nhân vật được đánh số thứ tự từ 1 đến 18 nhưng không theo một tiêu chí nào. Người già xếp lẫn người trẻ, thế hệ trước chung với thế hệ sau, "Cú" xếp lẫn với người. Có nhân vật quan trọng bị bỏ qua, có nhân vật không giữ vai trò gì trong truyện lại được thuật rất kỹ... Tiểu sử nhưng cách viết lại hoàn toàn phi tiểu sử, các mốc quan trọng trong cuộc đời nhân vật không được chú ý, thời gian xác thực, cụ thể bị mờ hóa. Nguyễn Bình Phương còn viết tiểu sử dựa vào những tin đồn hay phỏng đoán, như: "Nam: (...) Nghe đồn hy sinh ở Trùng Khánh". Những thông tin như thói quen, tật, sở thích... được khắc họa tỉ mỉ trong “tiểu sử”: ông Điện "một mắt mắc tật nháy", cô Nhai "hay nhổ nước bọt bậy"... Điều đó cho thấy phần tiểu sử mà tác giả dụng công xây dựng chỉ là giả tiểu sử, là thủ pháp bắt mối để tạo mô hình kết cấu đan xen thực - ảo, tăng cường tính phi lí, phi logic, bất khả tín của câu chuyện được kể.
Thuận tạo tiểu sử y như thật bằng cách sử dụng tiểu sử của bản thân, lí lịch cá nhân như một loại chất liệu "hiện thực" để nhào nặn, cắt dán, lắp ghép những chi tiết hư cấu và phi hư cấu, thật và không thật một cách tinh xảo tạo nên tiểu sử của nhân vật, khiến nhân vật trở nên xác thực như có thể nhìn thấy, sờ thấy và nói chuyện trực tiếp. Thuận còn để nhân vật di cư từ tác phẩm này sang tác phẩm khác xin "tạm trú". Để Phượng từ Made in Vietnam đến ăn vạ trong Chinatown và hai truyện ngắn của tôi, nhà văn khiến Phượng hiện ra không chỉ như nhân vật trong một tác phẩm mà trở thành một con người có thật, bằng xương bằng thịt bước vào gặp tác giả. Và tác giả, tức tôi trong Chinatown cũng bằng xương bằng thịt như đang tồn tại thật ở ngoài đời. Còn tôi đang chơi vơi trong Chinatown bỗng trở thành chị ta - kẻ "đi ở nhờ" trong I'm yellow... Với cách này, Thuận đã để cho chị phụ nữ xưng tôi - một nhà văn - tiếp xúc với nhân vật của mình một cách tự nhiên, như người bạn đồng hành lí tưởng.
 
2. Kết cấu giả tự truyện
Tiểu thuyết tự truyện là thể loại tiểu thuyết mà ở đó nhà văn tự kể chuyện đời mình một cách khách quan, chân thực. Cốt truyện của tiểu thuyết tự truyện được xây dựng trên cơ sở những sự kiện chính về cuộc đời, con người tác giả. Một số tiểu thuyết mượn mô hình tiểu thuyết tự truyện để mạo danh tự truyện, đó là những tiểu thuyết giả tự truyện như Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Chinatown, Pari 11 tháng 8 (Thuận), Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau (Đoàn Minh Phượng)...
Thuận công khai viết Chinatown để nhại tự truyện Người tình của M. Duras. Đây là một cách vừa học tập vừa nhại lại chính cái mình đã học. Thuận thực hiện công việc này một cách hoàn hảo trên mọi cấp độ: câu, môtip nhân vật, sự kiện, chi tiết, không gian, thời gian, giọng điệu... Không những thế, Thuận đã đem bóng dáng cuộc đời mình kết hợp với Người tình của Duras để tạo ra một bản sao tổng hợp. Trước hết, Thuận để cho nhân vật lặp lại đúng chặng đường của mình (Hà Nội - Moskva - Pari) và chuyện đời của Duras như bà kể trong Người tình. Tiếp đến, Thuận để cho mối tình của tôi và Thụy trong Chinatown nhại lại mối tình giữa tôi và người đàn ông Hoa kiều trong Người tình. Văn phong cũng nhại một cách hài hước văn phong của Duras. Thuận liên tục tạo sự liên văn bản với Duras qua những trích dẫn, những liên tưởng trong đầu nhân vật. Với cách này, Thuận đã đem đến cho bạn đọc cảm nhận mới mẻ về một tiểu thuyết giả tự truyện vừa hóm hỉnh vừa xa xót, thấm thía.
Nỗi buồn chiến tranh, Và khi tro bụi, Trí nhớ suy tàn không nhại tự truyện của bất cứ ai nhưng đều là những tiểu thuyết giả tự truyện. Dáng dấp của tác phẩm tự truyện nằm ở chỗ các tác giả để cho nhân vật chính xưng tôi kể về đời tư của mình, những mối quan hệ trong cuộc sống và những chiều kích chìm khuất trong tâm hồn một cách khách quan, chân thực như chính họ là tác giả viết lại câu chuyện của mình. Trao quyền tác giả cho nhân vật, nhà văn cũng được mặc sức hư cấu mà vẫn khiến câu chuyện hiện lên như thật.
 
3. Kết cấu giả chương hồi
Tiểu thuyết chương hồi vốn là thể loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung Quốc thoát thai từ thoại bản. Tiểu thuyết chương hồi có các đặc điểm cơ bản: thứ nhất, tác phẩm được chia thành nhiều hồi, mỗi hồi có một sự việc xảy ra theo thứ tự thời gian; thứ hai, nội dung câu chuyện được thể hiện qua hành động và ngôn ngữ nhân vật hơn là qua sự miêu tả tỉ mỉ về tâm lí, tính cách; thứ ba, câu chuyện được phát triển qua những tình tiết có xung đột căng thẳng mang nhiều kịch tính; thứ tư, nghệ thuật khắc họa nhân vật mang nhiều tính ước lệ.
Các đặc điểm trên tạo tiền đề cho trò chơi giả chương hồi của tiểu thuyết thế giới và tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Chiểu theo các đặc điểm lí thuyết của thể loại, có thể dễ dàng nhận thấy rất nhiều tiểu thuyết mang dáng dấp của tiểu thuyết chương hồi nhưng thực chất lại phá chương hồi. Nhiều tác phẩm cố tình để lộ hình thức chương hồi ra bề mặt bằng việc chia tác phẩm thành nhiều chương, đoạn, phần hay khúc (Thiên sứ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Pari 11 tháng 8, Vân Vy, Khải huyền muộn, Và khi tro bụi, Mưa ở kiếp sau, Mười lẻ một đêm, Vào cõi, Trí nhớ suy tàn, Chuyện của thiên tài, Người sông Mê...). Nhìn bề ngoài, cách chia này có vẻ tương ứng với cách chia hồi truyền thống nhưng hầu hết các tác phẩm trên đều đem cấu trúc lịch sử - tâm hồn thay cho cấu trúc lịch sử - sự kiện. Vì thế, ở mỗi chương hay từng phân đoạn thường không có sự kiện gì trọng đại, thậm chí phi sự kiện. Có chương chỉ vắn tắt hai câu kể về quyết định ra đời của nhân vật bào thai như chương 9 trong Thiên thần sám hối. Trật tự thời gian diễn ra các sự kiện cũng hết sức mù mờ, không rõ trước sau hoặc không có dấu mốc cụ thể. Những xung đột kịch tính, căng thẳng cũng không tồn tại mà nhân vật có chiều hướng buông xuôi, thả mình theo dòng suy nghĩ, hồi ức, cảm xúc, hay tưởng tượng, thậm chí    đi theo tiếng gọi của cõi vô thức.
Có tác phẩm rất giống tiểu thuyết chương hồi ở việc khắc họa nhân vật qua hành động và đối thoại, ít quan tâm đến việc miêu tả tính cách, tâm lí (Pari 11 tháng 8, Vân Vy, Chinatown, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật, Thoạt kỳ thủy, Nháp...). Nhưng thời gian sự kiện ở các tác phẩm này lại phai mờ, vết tích của chương hồi thậm chí bị xóa sạch.
Đặc điểm cuối cùng của tiểu thuyết chương hồi - nhân vật mang nhiều tính ước lệ - không trở lại trong các tác phẩm trên, có chăng chỉ được tái sử dụng trong tiểu thuyết lịch sử với ít nhiều sáng tạo như Hồ Quý Ly, Giàn thiêu...
 
4. Kết cấu giả huyền thoại
Nội dung của khái niệm huyền thoại rất phong phú và không ngừng được bổ sung, đổi mới nhưng cốt lõi của nó vẫn là những yếu tố kì ảo, hoang đường, bí ẩn, siêu nhiên. Trong văn học, huyền thoại là hình tượng nghệ thuật gián tiếp có tầm khái quát cao, có ẩn ý sâu nhằm diễn tả tư tưởng nào đấy của nhà văn. Ý nghĩa của huyền thoại rất mơ hồ, khó nắm bắt. Văn học thế giới từ nửa sau thế kỷ XX đã xem xu hướng huyền thoại hóa cái thực tại như một thi pháp đặc thù. Riêng thể loại tiểu thuyết - huyền thoại đã có các tên tuổi nổi tiếng như J.Joyce, F. Kafka, S. Becket, G. G. Macket, J. Amado... Ở Việt Nam, chất liệu huyền thoại và phương thức huyền thoại hóa cũng được các nhà văn sử dụng như một hướng khám phá mới. Bên cạnh việc cải biên những huyền thoại truyền thống, các nhà văn còn sáng tạo ra những huyền thoại mới, diễn đạt cái thực qua cái ảo, thể hiện cái bình thường bằng cái phi thường.
Trong Thiên sứ, Phạm Thị Hoài đã sử dụng những môtip huyền thoại ở cả phương Đông và phương Tây để sáng tạo ra những huyền thoại vừa quen vừa lạ, vừa cổ xưa vừa hiện đại trong thế giới nửa thực nửa hư, bịa đặt một cách hài hước. Sự ra đời kỳ lạ của bé Hon thấp thoáng bóng hình Thánh Gióng. Hình ảnh 13 nữ hộ sinh trong ca chào đời của bé Hon là phiên bản của 13 bà mụ trong các truyện cổ tích phương Tây. Hội kén rể là một huyền thoại quen thuộc được tác giả biến thành một trò chơi bịa tạc buồn cười mà vô cùng hồi hộp với 299 ứng viên, 598 con mắt huyên náo, ồn ào. Các môtip huyền thoại về sự hóa thân, biến dạng phổ biến trong sáng tác của Kafka cũng được Phạm Thị Hoài cải biên, vận dụng: Hoài - cô bé mãi 14 tuổi, cao 1m25; Quang lùn biến dị khác thường...
Võ Thị Hảo chắt lọc chất liệu chính sử và dã sử rồi huyền thoại hóa chúng tạo nên thế giới nghệ thuật mê hoặc của Giàn thiêu. Mọi cấp độ nghệ thuật từ không gian, thời gian đến thế giới nhân vật, ngôn ngữ... đều được tác giả tráng cho lớp men huyền thoại. Thời gian tuy được xác định cụ thể là triều vua Lí Nhân Tông và Lí Thần Tông (1088 - 1138) nhưng tác giả đã xáo tung thời gian tuyến tính, sử dụng tư duy dân gian để làm mơ hồ hóa các mốc thời gian niên đại. Có rất nhiều mốc thời gian cụ thể (như "Đinh mùi. Tháng chạp. Ngày Ất Dậu. Giờ Dần"...) nhưng sự kiện gắn liền với mốc thời gian ấy lại rất mơ hồ, không giống như sự thực lịch sử (Từ Lộ hóa kiếp, vua hóa hổ, Ngạn La là trinh nữ mãi mãi ở tuổi mười ba...). Nghĩa là, sự kiện không đủ chứng minh cho sự tồn tại xác thực của thời gian, khiến thời gian trở nên mù mờ, xa tắp như thời gian cổ tích. Không gian nghệ thuật của Giàn thiêu cũng mông lung như những trầm tích trong vỉa tầng ký ức. Đó là không gian nghi lễ thiêng liêng, u ám. Đó còn là không gian vô thức, không gian giấc mơ phổ biến trong văn học đương đại.
Trong Cõi người rung chuông tận thế, Người sông Mê, Thiên thần sám hối, yếu tố huyền thoại và huyền ảo lại được sử dụng như phương tiện cấu tứ để thể hiện triết lí nhân sinh. Nếu triết lí toát lên từ Cõi người rung chuông tận thế là cái ác sẽ bị bại trận trong cuộc giao đấu với cái thiện thì triết lí rút ra từ Thiên thần sám hối là con người cần phải biết quí trọng, đối mặt và dấn thân vào cuộc sống vì "không có gì thiêng liêng hơn sự sống". Câu chuyện về những linh hồn của Hoa, Hương, Khánh (Người sông Mê) đem đến cái nhìn nhân hậu về ý nghĩa của cuộc đời từ cõi chết: cuộc sống là ân huệ quí giá nhất mà Chúa trời ban tặng cho con người.
Có thể nói, chất liệu huyền thoại được các nhà tiểu thuyết đương đại sử dụng một cách hiệu quả biến thành trò chơi lôi cuốn của trí tưởng tượng không cùng, giải phóng khỏi quan niệm hiện thực truyền thống cứng nhắc. Tuy nhiên, các nhà văn dù sáng tạo đến mức độ nào vẫn tuân thủ nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là “biến hiện thực thành hoang đường mà không đánh mất tính chân thật”. Huyền thoại cũng là một phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để con người có thể chuyển tải được lượng thông tin lớn nhất trong một giới hạn nhỏ nhất, tăng cường tính uyển chuyển, linh hoạt, khó nắm bắt của kết cấu tác phẩm.
 
5. Kết cấu giả trinh thám và giả hình sự
Tiểu thuyết trinh thám là tiểu thuyết có nhân vật chính là thám tử, cốt truyện là điều tra vụ án, cách kể phải giữ được bí mật để thu hút bạn đọc. Sức hấp dẫn của truyện trinh thám trước hết là ở tính hình sự - một vụ trọng án xảy ra đòi hỏi phải truy bắt và trừng trị tội phạm. Thứ nữa là ở tài trí xuất chúng của thám tử làm các đầu mối của vụ án lần lượt được phơi bày một cách kịch tính, bất ngờ, làm bạn đọc thán phục. Tài trí ấy thể hiện qua hành động thực hiện các bước điều tra và suy luận tinh nhạy. Các tiểu thuyết T mất tích, Nháp, Phiên bản, Hồ sơ một tử tù, Kín, Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, Đi tìm nhân vật, Ngồi, Và khi tro bụi... đều "sặc mùi" trinh thám nhưng thực chất chỉ là "trò chơi nhại" tiểu thuyết trinh thám, nói cách khác, đó là những tiểu thuyết giả trinh thám.
Tác phẩm nhại tiểu thuyết trinh thám một cách hoàn hảo nhất có lẽ là T mất tích. Theo kiểu mẫu thể loại thì bạn đọc sẽ bị cuốn hút dõi theo các bước hành động thể hiện tài trí phá án của thám tử, nhưng nhân vật thám tử - thanh tra cảnh sát Delon - lại xuất hiện rất mờ nhạt. Các thành tố cấu thành một tiểu thuyết trinh thám có đủ nhưng nghịch lí là ở chỗ cuộc điều tra qui mô và nghiêm trọng lại vô kết quả, không đáp ứng được mong đợi của bạn đọc như ở kiểu mẫu thể loại. Không chỉ môtip điều tra mà cả môtip suy luận - cái làm nên sức hấp dẫn của một cốt truyện trinh thám đích thực, cũng bị nhại lại thảm hại. Nhân vật tôi bất đắc dĩ phải đóng vai thám tử nghiệp dư, nhưng tôi không đi tìm T mà đi tìm câu trả lời cho sự tồn tại của chính mình, đó là một cuộc sống ổn định và nhàm chán đến mức tê liệt. Điều này dẫn đến những lập luận và suy đoán của tôi cũng rất phản trinh thám vì không đưa ra được kết luận thuyết phục nào.
Tương tự, cái chết của thằng bé đánh giày trong Đi tìm nhân vật là một vụ án hình sự nhưng vụ án này chỉ được nhắc đến như cái cớ để nhân vật tôi khởi hành trên con đường tìm lại chính mình. Cái chết của chồng An Mi trong Và khi tro bụi cũng là một bí ẩn đánh dấu mốc xuất phát để An Mi phiêu du trên hành trình đi tìm ý nghĩa của cái chết. Hành trình đó của cô bị gián đoạn bởi một vụ án có tính chất hình sự nghiêm trọng là cái chết của Anita và sự mất tích của Marcus. An Mi bị thôi thúc tạm dừng cuộc hành trình để vào vai thám tử truy tìm, vạch trần sự thật của vụ án và đã phá án thành công nhưng kẻ phạm tội không hề có dấu hiệu sẽ bị trừng trị bởi pháp luật. Vụ án và phá án chỉ là thủ thuật mà nhà văn sử dụng để nhân vật An Mi quay ngược cuộc hành trình đi tìm cái chết trở về tìm sự sống. Các tác phẩm Hồ sơ một tử tù, Nháp, Phiên bản, Kín, Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế đều đậm chất trinh thám, hình sự nhưng những vụ án và việc phá án đều không phải là mục đích trọng tâm. Mô hình của tiểu thuyết trinh thám chỉ là bộ khung mà các tác giả dựa vào để triển khai hai mạch song song, xen kẽ: mạch về hiện thực cuộc sống với trạng thái nhân sinh phức tạp, tha hóa, nhiều góc tối, và mạch về thế giới nội tâm có nhu cầu được bộc lộ và soi rọi đến tận cùng. Không khí trinh thám làm tăng mức độ nghiêm trọng của cuộc sống sa đọa và sự huyền bí của lục địa tâm linh.
*
Gắn với cái hiện tại không ngừng biến đổi, tiểu thuyết không bao giờ cam chịu chấp nhận một hình thức hoàn kết. Nhất là trong điều kiện thường xuyên biến đổi của các hệ hình tư duy và giá trị như hiện nay, tiểu thuyết cần có những bước đột phá, tự làm mới mình để thích ứng với xã hội và đáp ứng những nhu cầu thẩm mĩ mới của người đọc. Kết quả là khuôn khổ truyền thống của thể loại bị phá vỡ, các quan niệm về tiểu thuyết cũng biến đổi và ngày càng đa dạng.
Đổi mới thể loại, tất yếu phải đổi mới kết cấu. Những thử nghiệm kết cấu có tính chất trò chơi trên là một cách khám phá khả năng vô hạn của thể loại, thể hiện khát vọng làm giàu cho văn học dân tộc nói chung và tiểu thuyết nói riêng.
 
N.T.N

Nguồn tin: TCNV 01-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn