TCNV- Trong nguồn cảm hứng đời tư, thế sự, nhiều nhà văn viết về nông thôn sau 1975 đã quan tâm, chú ý nhiều hơn tới con người trần thế với thái độ trân trọng, ngợi ca như một sự tiếp nối văn học truyền thống. Đọc trang văn viết về người nông dân hôm nay, người đọc lại nhớ đến các nhà văn từng gắn bó với những người chân lấm tay bùn như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân, Tô Hoài... Các nhà văn này từng phát hiện và khẳng định vẻ đẹp của người nông dân qua bề ngoài lam lũ, thất học và nhút nhát. Đó là một chị Dậu (
Tắt đèn) đẹp người, đẹp nết, yêu chồng thương con; một anh Pha (
Bước đường cùng) dám vùng lên đánh trả bọn cường hào; một Chí Phèo (
Chí Phèo) khao khát làm người lương thiện ngay khi mất cả nhân hình lẫn nhân tính; một bà cụ Tứ (
Vợ nhặt) tuy nghèo đói nhưng thương con, thương dâu và hiểu đời... Tất cả đã làm nên "
những đốm sáng" trong xã hội đen tối. Các nhà văn sau 1975 tiếp nối truyền thống, đi sâu khám phá thêm nhiều vẻ đẹp, nhiều phẩm chất của người nông dân trong hoàn cảnh xã hội mới.
Trong
Mảnh đất tình yêu, Nguyễn Minh Châu bằng niềm xúc động chân thành với con người quê hương, giàu lòng thương yêu và xa xót trước những số phận mà "
viết về cái đẹp, chất thơ của đời sống, trân trọng những cố gắng bền bỉ, âm thầm của con người để chống chọi với những hoàn cảnh khắc nghiệt, để sống một cách lương thiện, trung hậu" [4].
Mảnh đất tình yêu đã phát hiện ra một tình thương yêu vô bờ bến của những con người ở một vùng đất khó khăn, khắc nghiệt: "
Vùng cửa biển làng tôi cứ chừng khoảng vài ba giáp, trời đất lại vẽ lại bản đồ một lần" [3, tr. 776]. Ở đó là những con người quyết tâm sống chết cùng đất đai và biển khơi, truyền cho nhau tình yêu thương như một sự cống hiến cho sự tồn tại của làng quê, đất nước. Tác giả đã ví sự hy sinh thầm lặng của họ như những con dã tràng xe cát: "
Ông lão Bờ cùng với ông tôi, y như hai con dã tràng sau một đợt sóng biển, cuộc đời đã bị trời đất cướp mất hết, chỉ còn lại tình yêu cuộc sống và hai bàn tay không ngừng làm lụng" [3, tr. 812]. Ở vùng đất khắc nghiệt đó có những người đàn bà thầm lặng lăn lộn với cuộc sống cô đơn và khắc nghiệt được ca ngợi bằng tấm lòng ưu ái của nhà văn. Đó là hình ảnh người mẹ như nguồn gốc và nền tảng của cuộc sống chăm sóc và hy sinh những đứa con: "
Mẹ tôi là như vậy, sống bằng tình thương là nhiều, lặng lẽ sống bằng thói quen nhường nhịn và sự hy sinh là nhiều... Những người đàn bà như mẹ tôi bao giờ cũng lẫn vào đám đông, cái đám đông những con người lao động của cái tầng đời nền móng, lúc nào và ở đâu cũng gợi lên một cảm tưởng lầm lũi và lẳng lặng chịu đựng. Lắm lúc tôi cứ nghĩ: cả một xã hội toàn những con người như mẹ tôi sẽ chả bao giờ nổ ra một cuộc cách mạng nào, nhưng mà đấy là một xã hội lương thiện, có một cái nền rất vững chãi về đạo đức, phong hóa" [3, tr. 908-909].
Ở vùng đất đầy thiên tai khắc nghiệt, giặc giã dữ dội nếu mỗi con người không vật lộn với sóng gió, biển cả thì khó có thể tồn tại được. Bên cạnh đó, thử thách của chiến tranh cũng vô cùng ghê gớm, bởi nó cướp đi bao sinh mạng con người để lại sự trống trải, cô đơn và mất mát. Những người sống sót còn lại phải đối mặt với sự cô đơn và cuộc sống cô độc cũng giống như một sự thử thách khắc nghiệt. Đó là sự cô độc của mụ Điểm: "
Từ khi chồng chết, mới hăm tám tuổi, mụ sống trong nếp nhà cha mẹ để lại như sống trong một nhà tu kín. Mỗi năm giết đi một ít hy vọng vào hạnh phúc tương lai. Mỗi ngày nghe tiếng trẻ con cười nói bi bô bên nhà hàng xóm lại chợt thấy thèm thuồng. Mỗi đêm nghe những cặp vợ chồng nhà hàng xóm bàn chuyện làm ăn bên ngọn đèn, lại chợt chạnh lòng" [3, tr. 821].
Những con người như lão Bờ, ông ngoại của bé Quy, mụ Điểm... trong tác phẩm đã âm thầm, lặng lẽ sống như một sự hy sinh, nhọc nhằn cống hiến cho đời. Trong tình yêu thương lớn lao cao cả như một nguồn sức mạnh giúp họ vượt qua mảnh đất khắc nghiệt. Vẻ đẹp của họ được ẩn bên trong những con người có bề ngoài âm thầm, lầm lũi khác với vẻ đẹp được thử thách trong những hoàn cảnh chiến tranh ác liệt thời chống Mỹ như Nguyệt trong
Mảnh trăng cuối rừng, chị Sứ trong
Hòn Đất...
Nếu như Nguyễn Minh Châu trong
Mảnh đất tình yêu đã phát hiện ra những con người giàu lòng thương yêu và nghị lực sống kiên nhẫn, cần cù thì Nguyễn Khắc Trường lại khám phá vẻ đẹp nhẫn nhục, chịu đựng của người phụ nữ nông dân. Đó là bà Son, một người tốt nết, chịu thương, chịu khó. Từ tuổi mười tám đôi mươi, cô Son "
đẹp nhất làng. Mặt hoa da phấn, thắt đáy lưng ong. Đi một bước là có người theo, người ghẹo một bước. Nhưng chưa có anh nào lọt được vào cặp mắt lá răm vừa đen vừa sắc của cô" [5, tr. 78]. Sau đó, người thôn nữ sắc sảo, mặn mà ấy đã phải lòng cậu giáo Phúc, nhưng vì gia đình ngăn cản nên cô bị gả cho anh Hàm, "
một người không được hào hoa phong nhã như cậu giáo Phúc". Chấp nhận lấy Hàm - một người thợ mộc đi tập tễnh là bà Son đã lựa chọn con đường tuyệt vọng. Nhưng chính sự lựa chọn tuyệt vọng ấy đã bộc lộ tính cách của một cô gái biết mình biết người. Chấp nhận lấy ông Hàm là bà không muốn để tiếng xấu cho cha mẹ mình. Nhưng chính trong sự lựa chọn ấy cũng không hề giả dối, không hạ mình, bởi những điều kiện mà bà đưa ra ngay trong đêm tân hôn: "
Anh im lặng thì tôi nguyện làm con hầu con hạ cho anh suốt đời. Tôi cắn răng là vì thầy u tôi, chứ không bao giờ tôi yêu anh! Còn nếu anh chỉ cần hé răng với ai về việc này, tôi sẽ đâm đầu xuống sông tự vẫn! Rồi tôi sẽ báo oán, sẽ vật anh chết theo!" [5, tr. 81].
Như vậy, chung sống với ông Hàm là một sự lựa chọn bất đắc dĩ thể hiện bà Son là một người vừa biết nhẫn nhục chịu đựng, vừa có đức hi sinh cao cả, vừa là người trọng danh dự. Cũng từ đó khát khao yêu đương mãnh liệt của bà đã được đào sâu chôn chặt trong lòng. Bà trở thành người suốt ngày sống âm thầm lặng lẽ, hết lòng cung phụng chồng con và là người dâu trưởng được cả dòng họ nhà chồng trân trọng ngợi khen nể phục. Đức tính ấy thể hiện một sự hy sinh, sự nhẫn nhục của những người phụ nữ nông thôn mặc dù bà không phải không có những khát khao yêu đương cháy bỏng. Nhưng cuộc sống ở làng Giếng Chùa đâu có để cho bà được yên bởi sự đấu đá, tranh giành giữa hai dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá mà bà phải liên lụy. Thế là vì chồng, vì con, vì gia đình và cả dòng họ nhà chồng, bà đã không thể từ chối cái việc mà bà cho là thất nhân thất đức. Đó là gặp ông Phúc rồi lại phải viết đơn tố cáo để hãm hại ông. Bà đã phải dùng hết cái tình xưa nghĩa cũ để cho họ hàng nhà chồng lợi dụng: "
Còn một chút gì trong đáy lòng bà, bà phải vét nốt! Cái điều xưa kia là tội lỗi, là tai tiếng để cả dòng họ phải hổ lây, là cái gai trong lòng ông Hàm, thì bây giờ lại là lá bùa bảo hộ cho chính ông Hàm, cho cả dòng họ Trịnh Bá!" [5, tr. 175]. Một tình thế ép buộc của gia đình và dòng họ nhà chồng khiến bà không thể nào từ chối. Nhưng bản chất lương thiện trong bà lại bùng lên mạnh mẽ hơn khiến bà không thể tiếp tục sống thanh thản. Bà đã tuẫn tiết như một sự trả giá cho quyết định của mình. Cái chết của bà Son đã chứng minh một tấm lòng trinh bạch: chỉ có cái chết mới hóa giải được cái ác. Nhưng ở mảnh đất ma lẫn với người thì cái chết của bà đâu có nghĩa lý gì. Chỉ tiếc cho thân phận tội nghiệp của bà mà thôi.
Cũng như nhân vật bà Son trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, các nhân vật nữ trong sáng tác của Tạ Duy Anh đều có những vẻ đẹp tuyệt vời nhưng lại chịu bất hạnh. Họ là Quý Anh, Giang Tâm trong trẻo, thanh sạch như những thiên thần. Họ là chị Thư, chị Túc đẹp người, đẹp nết, đảm đang nhất làng.
Đó là hình ảnh chị Túc (
Xưa kia chị đẹp nhất làng) mang một vẻ đẹp hoàn hảo: "
Ngày ấy, chị Túc xinh lắm. Ở vào tuổi mười tám chị tươi rói như một bông hoa. Với thân hình thon thả, bờ vai chị tròn trịa, lẳn trong chiếc áo màu nâu tươi... Cặp môi chín mọng của chị khẽ mở ra, để lộ nụ cười có sức hút mê mệt. Cặp mắt giống như hai miếng cau bổ khéo của chị chớp chớp nhìn xuống đất" [2, tr. 23]. Ngoài vẻ đẹp ngoại hình, chị còn có vẻ đẹp của phẩm chất. Chị luôn trân trọng tình cảm của những con người nơi trận mạc qua những bức thư "
như giữ cho mình một báu vật". Mặc dù được sở hữu một sắc đẹp trời cho, nhưng không bao giờ chị kiêu căng. Ngược lại, chị luôn hiền dịu. Đến cả kẻ luôn tìm cách chiếm đoạt thân xác của chị cũng phải thốt lên: "
Em là cô Tấm trăm phép mầu chứ không phải là người trần mắt thịt" [2, tr. 32]. Trong những cuộc thi khi làng mở hội, chị luôn giành giải nhất và được phong là "
gái đảm hậu phương". Là người từng chứng kiến: "
Không biết bao nhiêu cặp mắt si mê... Không biết bao nhiêu lời mây gió đã thoảng qua tai" [2, tr. 23], thế nhưng vì cuộc chiến ác liệt mà bao nhiêu thanh niên ra đi không hẹn ngày trở lại cùng chị. Đến khi đất nước hòa bình, chị Túc mỏi mòn chờ đợi mà không có một bóng đàn ông nào đến với chị. Chị lại thành kẻ cô đơn. Cuối cùng, chị Túc xinh đẹp và đảm đang nhất làng trở thành "
chị Túc chửa hoang" của làng Hạ. Cái đẹp của chị Túc làm người đọc nhớ đến vẻ đẹp của chị Dậu trong tiểu thuyết
Tắt đèn của Ngô Tất Tố, của thị Mịch (phần đầu tác phẩm) trong
Giông Tố của Vũ Trọng Phụng. Đó là vẻ đẹp của những người phụ nữ nông thôn truyền thống: đẹp cả người lẫn nết. Vẻ đẹp của chị Túc toát ra từ sự mặn mà, duyên dáng, đằm thắm, dịu dàng của những cô thôn nữ. Cô gái ấy đầy những khát khao về hạnh phúc, về cuộc sống nhưng luôn e thẹn, rụt rè để rồi cuối cùng lại phải ân hận, tự trách mình đã không cho người bạn trai được một lần cầm tay trước lúc lên đường làm nghĩa vụ.
Giống như chị Túc, chị Thư trong
Truyền thuyết viết lại, Thiên thần và ác quỷ cũng có vẻ đẹp hoàn mỹ. Chị Thư đẹp tựa cô tiên, có khả năng xoa dịu nỗi đau đớn của trẻ con. Bao nhiêu đứa trẻ, nhất là "
những đứa trẻ đau đớn, còi cọc chỉ cần một lần úp mặt vào ngực chị cứ lớn như thổi" [1, tr. 62]. Những đứa trẻ bị ốm thì lại rất thèm được chị bế. Nhưng vẻ đẹp của chị phải trả giá bằng cuộc đời cô đơn và bất hạnh bởi làng Đồng ngu muội cho rằng chị không phải là người trần. Vì thế, thế giới xung quanh chị cuối cùng chỉ toàn là trẻ con - những tâm hồn trong sạch, không hề vướng bụi trần gian.
Vẻ đẹp toàn diện của các nhân vật nữ trong tác phẩm Tạ Duy Anh trở thành sự trắc trở của những điều ngu tín, hoang dại và tăm tối của cộng đồng nông thôn. Nên vẻ đẹp của họ thường gắn liền với bi kịch. Khác với
Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, vẻ đẹp của Mỵ, Ảng... là nạn nhân của bọn quan lại, chúa đất phong kiến. Các nhà văn sau 1975 đã không còn bị cái nhìn giai cấp chi phối nên đã thấy rõ một môi trường nông thôn còn nhiều quan niệm phản nhân văn làm cho cái đẹp bị chôn vùi. Tuy nhiên, vẻ đẹp của họ được các nhà văn khám phá với một sự khát khao, nâng niu và trân trọng. Qua những vẻ đẹp ấy, nhà văn muốn lên tiếng hãy cứu vớt cái đẹp, hãy để cho cái đẹp được tồn tại. Đó cũng chính là mong muốn, là khát khao của các cây bút văn xuôi hôm nay khi khám phá, miêu tả những vẻ đẹp tuyệt vời của những người nông dân trong văn học đương đại.
B.Q.T Tài liệu tham khảo: - Tạ Duy Anh - Luân hồi - NXB Văn học, Hà Nội, 1994.
- Tạ Duy Anh - Truyện ngắn chọn lọc - NXB Hội Nhà văn, 2003.
- Nguyễn Minh Châu Toàn tập, Tập 2 - NXB Văn học, 202.
- Nguyễn Văn Hạnh - Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người - Tạp chí Văn học, số 3/1993.
- Nguyễn Khắc Trường - Mảnh đất lắm người nhiều ma (In lần thứ 8) - NXB Văn học, Hà Nội, 2003.