ANH CHI
Tiến trình của ca trù
1. Ca trù, dân dã và cung đình...
Ngay sau khi Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long, tại Kinh thành đã có một đời sống múa hát khá phong phú. Chưa thấy thư tịch nào ghi cụ thể về những sinh hoạt múa hát đưa từ các làng quê, các miền đất khác đến Thăng Long vào thế kỷ XI
. Một vài thư tịch có viết rằng, từ đầu thời Lý, tại Kinh thành có Đào thị, một phụ nữ rất giỏi múa hát. Đến mức, nhiều vương gia, các quan lớn, và có lần cả vua Lý Thái Tổ đã ban thưởng cho Đào thị. Người ta quá hâm mộ Đào thị, nên về sau, thấy các cô khác giỏi nghề ca múa, hoặc chỉ là cô gái hát hay, thì đều gọi là
ả đào (người sính chữ thì gọi các cô gái ấy là
đào nương). Từ
ả đào có trong đời sống từ thuở ấy, sau này, người ta gọi lối hát truyền thống này là
Hát ả đào.Vào năm 1025, vua Lý cho đặt ra chức Quản giáp để quản các nhóm ca múa thường xuyên múa hát tại các cửa đình trong những ngày hội, ngày lễ thần hoàng các xã, phường. Bởi thế mới có tên gọi
hát cửa đình. Đến năm 1041, vua Lý Thái Tông cho tuyển chọn hơn trăm ca nữ, nhạc kỹ, để thành lập một ban nhạc chuyên phục vụ những dịp khánh tiết của triều đình. Như vậy, hát cung đình được sinh ra trên cơ sở chọn lựa các tài năng nổi trội của
hát cửa đình dân gian. Các vua tiếp theo của nhà Lý đã duy trì và làm cho phát triển Ban nhạc cung đình. Vị quan trông coi việc này được gọi là
Linh nhân. Và những điệu ca, nhạc dân tộc có từ lâu đời bắt đầu được phát triển, nâng cao thêm từ đấy. Nhà vua thường tổ chức mừng thọ ở ngoài cửa Quảng Phúc, cửa phía tây của Hoàng thành, và bao giờ cũng có diễn xướng, múa hát. Sách
Việt sử thông giám cương mục ghi việc mừng sinh nhật vua Lý Nhân Tông năm 1123 đã có cả
Vũ đình thôi luân, nhà sân khấu trên bánh xe, có thể đẩy đi được. Ban nhạc nữ cứ múa hát trong khi
Vũ đình thôi luân được đẩy đi qua các phố phường.
Đến thời Trần, vua và các vương thân cũng rất yêu thích múa hát trong các cuộc vui chung. Trong sách
Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ mô tả rằng: triều nhà Trần, hễ có quốc tang, lúc sắp rước quan tài đến Sơn Lăng để an táng, dân chúng ngoài phố phường xúm lại xem vòng trong vòng ngoài chật ních cả chốn điện đình, không thể rước đi được. Người dẹp đám phải bắt chước lối hát
vãn đời cổ, đặt ra khúc
Long ngâm, sai đi hát diễn quanh phố phường, khiến dân chúng kéo nhau theo xem. Lúc đó mới rước linh cữu đi được!... Phạm Đình Hổ có nhận định: "Thanh âm nước ta khác với Trung Hoa. Đời Lý, Trần tập tục hãy còn chất phác, triều đình có tấu nhạc cũng chỉ theo tập truyền...". Tới thời Lê, từ đời Hồng Đức trở đi đã có sự phân chia giữa âm nhạc trong cung đình và âm nhạc ngoài dân gian. Nhóm đại thần của vua Lê Thánh Tông như Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh, sau năm 1470, đã nghiên cứu âm luật cổ, kim mà đặt ra hai bộ
Đồng văn và
Nhã nhạc. Một bộ chuyên tập âm luật để hoà nhạc, một bộ chuyên chuộng thanh và trọng về tiếng hát. Cả hai bộ do quan
Thái thường trông coi. Còn âm nhạc dân gian thì đặt Ty giáo phường coi sóc. Và rồi, dần dà, hai bộ
Đồng văn và
Nhã nhạc vốn có uy thế lớn, đã mất dần vai trò trong đời sống. Ngược lại, lối nhạc trong dân gian ở các giáo phường lại trở nên thịnh hành. Đến mức, trong tế
Giao, Miếu, tế
Triều hạ, cũng như các đám tế thần, đều dùng nhạc giáo phường cả... Tiến trình của ca múa là theo quy luật như vậy, bởi dân gian mà có, sau dẫu phát triển đến mấy rồi cũng chỉ có thể sống lâu bền trong dân gian.
Ngày xưa,
hát cửa đình thường được tổ chức suốt ngày, đêm. Có những đám hội làng còn tổ chức hát mấy ngày mấy đêm liền. Cuộc vui thật là bất tận. Người xem, những bậc giàu có, các quan lớn, khi muốn tỏ lòng khen ngợi các ca kỹ thì tung cho họ những đồng xu tiền thưởng bằng kẽm. Dùng tiền kẽm vào việc đó, vui thì vui nhưng tiền thưởng hay gẫy và dễ bị mất. Về sau, người ta nghĩ ra cách phát thẻ cho người được thưởng. Thẻ làm bằng tre vót nhẵn, có ghi mức thưởng. Ca kỹ được thưởng thẻ, mãn cuộc, cứ theo mức ghi ở thẻ mà lĩnh tiền. Do vậy mà có lệ
hát thẻ. Người sính chữ gọi là lệ
ca trù (
thẻ, chữ Hán gọi là
trù). Những ca nữ danh tiếng xưa thường đi dạy cho các con, em nghề hát múa. Bọn con, em học thành tài mỗi khi đi hát đình đám, được thưởng tiền, thường trích ra một khoản để cung dưỡng thầy, gọi là tiền
đầu. Những ca kỹ lão luyện có nhiều trò giỏi, nên nhận được nhiều tiền
đầu, nên người đời gọi là
cô đầu để đề cao tài nghệ sênh ca. Vậy nên, gọi đúng nhất,
cô đầu là người ca kỹ bậc thầy. Nghệ thuật hát múa cửa đình được nâng cao dần theo thời gian. Lâu về sau, có hiện tượng khi hát cửa đình, các ca nữ phải múa uốn éo, múa lên múa xuống, gọi là múa
bỏ bộ. Rồi lại có những kép múa tứ linh mang lốt bốn con vật thiêng là hạc, phượng, lân, quy, múa phụ họa theo nhạc bát âm, đến mức độ này, người ta gọi là
hát nhà trò. Đến
hát nhà trò thì tính dân gian tự nhiên của ca sênh đã nhạt đi đôi phần.
Có thể nói, tiến trình của hát ả đào, đến giai đoạn hát thẻ (ca trù) là hay nhất, tự nhiên và dồi dào sức sống nhất. Các nghệ sĩ, ca nương ganh đua nhau phô tài năng của mình một cách tự nhiên, nên nghệ thuật đạt đến đỉnh cao. Nhiều bậc vua chúa, danh sĩ đã có đóng góp đáng kể cho nghệ thuật ca trù. Vua Lê Dụ Tông (1680-1731) là người sành ca trù nổi tiếng ở Thăng Long xa. Ông là người đặt ra điệu
ngâm vọng rất trữ tình trong các điệu ca trù. Chúa Trịnh Sâm đã sáng tác khá nhiều thơ lục bát bốn câu cho các cô đầu ngâm, gọi là
thổng. Bởi
thổng do chúa Trịnh viết, nên thời đó người ta gọi là
thổng cửa quyền. Sau này, cái tên
hát cửa quyền mất đi cùng với sự lụi tàn của nhà chúa, nhưng một số bài
thổng vẫn còn lại mãi với ca trù trên đất Kinh kỳ và nhiều miền quê khác, bởi cái đẹp tinh tế và sâu sắc biết bao đời kết tinh trong nó!
Tại Thăng Long xưa có thôn Giáo phường rất nổi tiếng, thuộc tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương (nay thuộc địa bàn phố Huế, phố Mai Hắc Đế, phố Trần Xuân Soạn). Khu vực này trải nhiều đời nổi tiếng sênh phách cầm ca. Đến đầu thế kỷ XX, ở đây còn có
Nhà hát hai mươi bốn gian, nơi đào nương xuất sắc nhất thế kỷ XX là Quách Thị Hồ từng diễn nhiều năm. Địa chỉ 83b phố Huế có một di tích văn hoá, đó là ngôi đền cổ, trên cổng có ba chữ đại tự
Giáo phường từ, và hai trụ ở cửa đền có đôi câu đối đắp nổi. Di tích này gần đây vẫn còn. Khu vực Đống Đa vốn có ngôi đền
Ca công, cũng mới bị huỷ hoại mất những năm gần đây. Tại đình Đông Các, phố Nam Đồng may còn lại tấm bia do Tiến sĩ Nguyễn Độn soạn năm Chính Hoà 13 đời Lê Hy Tông (1692), nét chữ vẫn đọc rõ: "... ả đào ngâm khúc hát thái bình, ca câu dân yên vật thịnh...". Tiến sĩ Ninh Tốn, nhà thơ nổi tiếng của Thăng Long thế kỷ XVIII, có viết về phường Hoè Nhai và những nhà hát ả đào ở đây từng làm mê say bao tao nhân mặc khách. Cho đến đầu thế kỷ XX, phường Hoè Nhai, phố Hàng Giấy vẫn là phố ca trù nổi tiếng của Hà Nội. Trên đất Thăng Long - Hà Nội, hát ca trù đã đạt đến đỉnh cao văn hoá thẩm mỹ...
Vậy là, xuất phát từ lối hát tín ngưỡng cửa đình của làng quê, đi vào môi trường Thăng Long, đã cất cánh thành ca trù, tinh hoa nghệ thuật diễn xướng của người Việt ta. Rồi đến thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ca trù đã thăng hoa trong hàng loạt bài hát nói của các danh sĩ nổi tiếng như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Phan Bội Châu... Đó là nghệ thuật đỉnh cao, thơ và nhạc hòa cùng hơi thở, cùng nỗi lòng của con người Thăng Long, con người Việt Nam, thành nghệ thuật bất hủ.
2. Giáo Phường Cổ Đạm, tài hoa một miền quêThôn Giáo Phường, có thời gọi là Phú Giáo, thuộc xã Xuân Hoa, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây vốn có một ngôi đền thờ khá uy nghi với một không gian đẹp trầm lắng. Trong đền, ngoài đồ thờ tự, còn có hai bức tượng có giá trị về văn hóa - lịch sử. Đó là hai pho tượng thờ hai vị Tổ sư của nghề hát
ả đào. Từ xưa, người ta gọi là đền Giáo Phường, có người gọi là đền Tổ Sư.
Hát ả đào là một nghệ thuật độc đáo của người Việt ta, có ở nhiều miền quê, từ nhiều đời trước. Danh sĩ Vũ Phương Đề (1697-?) có tác phẩm
Công dư tiệp ký, trong đó nói đến thôn Ả Đào có nhiều đào hát, đặc biệt có Đào thị đã giúp vua Lê đánh giặc Minh. Danh sĩ lớn Ngô Thì Sĩ (1726-1786), trong sách
Việt sử tiêu án cũng có chép tích Đào thị giúp vua đánh giặc, nhưng lại là vua Lý. Nhiều nhà văn hoá đã để tâm nghiên cứu truyền thống của môn nghệ thuật hát ả đào, và hầu hết đã ghi nhận rằng, thế kỷ XVII hát ả đào rất thịnh, thế kỷ XVIII có kém đi, đầu thế kỷ XIX thì ả đào Cổ Đạm, Nghi Xuân nổi tiếng trong thiên hạ. Nói ả đào Cổ Đạm, Nghi Xuân chính là nói tới ả đào thôn Giáo Phường, thuộc tổng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân. Vì tên tổng, nên người ta hay gọi là Cổ Đạm, Nghi Xuân, dân chúng thì cứ gọi là ả đào Cổ Đạm.
Sách
Nghi Xuân huyện chí của Đông Hồ Lê Văn Diễn soạn năm 1842 có đoạn: "Họ Phan nhân có ngôi mộ tổ kết ở Phú Lạp, bèn dời đến đó, làm rể họ Nguyễn. Từ đó ca kỹ, thanh sắc đều tốt hơn, nghề hát truyền khắp, nhóm thành Giáo Phường nổi tiếng gần xa". Cũng có tài liệu nói rằng, Tổ cô đầu ở Giáo Phường Cổ Đạm, Nghi Xuân tên là Đinh Lễ tức Nguyên Sinh, khi mất đã biến thành con bồ câu xanh, bởi thế được vua phong là Thanh Xà Đại vương; vợ ông là Bạch Hoa, khi mất được phong là Mãn Đào hoa Công chúa; cùng giỗ vào ngày 11 tháng Chạp âm lịch. Có tích lại kể, Đinh Lễ ở Cổ Đạm là con nhà gia thế, được tiên giúp nên đã chế được cây đàn đáy và cặp sinh. Chàng lấy nàng Hoa là con quan châu Thường (Thường Xuân, Thanh Hóa). Chàng dạy vợ đàn hát, rồi cùng về Cổ Đạm truyền nghề cho trai, gái trong thôn. Khi vợ chồng chàng mất, dân chúng nhớ ơn lập đền thờ, sau được sắc phong là Thanh Xà Đại vương và Mãn Đào hoa Công chúa... Các tích chuyện có những chi tiết khác nhau, nhưng những sách viết về ca trù đều cho biết, các Giáo phường đều thờ hai vị Tổ sư là Thanh Xà Đại vương và Mãn Đào hoa Công chúa.
Từ xưa, các Giáo phường xứ Nghệ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) đều coi Cổ Đạm là gốc. Đền thờ Tổ sư nghề hát ả đào ở đây là đền thờ hàng xứ. Đất Giáo Phường xưa đông vui bốn mùa:
Đêm năm canh thấu tỉnh tình tinh/ Ngày sáu khắc rộn từng tùng cắc... Xin nói rõ, Giáo phường là tên gọi những phường hát ả đào ở một vùng quê. Còn ở đây, Giáo Phường tổng Cổ Đạm có quy mô rộng khắp cả một thôn, lại đặc sắc về nghề ca kỹ, nên thôn mang tên là Giáo Phường. Đào, kép Giáo Phường Cổ Đạm từ xưa thường được mời đến truyền nghề cho các làng khác. Bình thường mọi người chuyên chú cày cấy làm ăn. Khi rảnh rỗi, họ đàn hát, ôn luyện hoặc truyền dạy cho đàn em. Giáo Phường Cổ Đạm thời nào cũng có những tài hoa. Tên tuổi những danh tài Cổ Đạm đã được ghi vào văn chương, sách sử và truyền ngôn rộng rãi. Như chuyện thi hào Nguyễn Du từng quen biết nàng Thu Nguyệt trong một tiệc hát ở Cổ Đạm. Khi được tin nàng qua đời trong cảnh nghèo nàn, Nguyễn Du sang tận Triều Khẩu, đến thắp nhang trước mộ nàng và đọc bài thơ
Điếu La Thành ca giả, khóc nàng. Rồi đến Nguyễn Công Trứ, tương truyền, cũng từng nhiều lần sang Giáo Phường Cổ Đạm làm kép và quen biết nàng Sử. Một lần, cùng nàng đi hát, lúc ngang qua cánh đồng vắng, ông thả lời trêu ghẹo... Sau này, lần gặp lại Nguyễn Công Trứ trong tiệc hát tại dinh Tổng đốc Hải An của ông, nàng Sử nhận ra quan Tổng đốc chính là người cũ, nên cất giọng, hát:
Giang sơn một gánh giữa đồng/ Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ, quên? Nguyễn Công Trứ nhận ra nàng, mời nàng ở lại trong dinh của mình để chăm sóc nàng lúc tuổi già...
Sang thế kỷ XX, Giáo Phường Cổ Đạm cũng có những đào nương danh tiếng, như đào Phẩm, đào Soan, đào Mơn, đào Khánh... Năm 2005, lão nghệ nhân Phan Thị Mơn còn tham gia biểu diễn trong Liên hoan Ca trù toàn quốc tại Nghệ An và Hà Nội. Những năm cuối thế kỷ XX, nghệ nhân Phan Thị Khánh đã da mồi tóc sương mà lòng vẫn nhớ những mùa ca náo nức xưa. Bà còn kể, ngày xưa ở thành phố Vinh có phố Đào nương Cổ Đạm, nhiều đào hát nổi tiếng sống ở phố ấy, trong đó có đào Khang. Đào Khang đã lấy chồng người Huế, có con rồi còn bỏ về phố Đào nương Cổ Đạm. Người cũ gửi cho đào Khang những câu thơ:
Ngửa hai tay trắng cười duyên phận/ Cầm bốn tao nôi kể sự tình/ Đàn phách hãy còn theo dặm tía/ Phấn son chưa dễ phụ mày xanhVậy đấy, ả đào là số phận những đào nương. Giáo Phường Cổ Đạm là số phận một làng quê, với rất nhiều hy sinh, gian khổ, nhưng trên hết là tình yêu say đắm đối với sênh ca. Bởi thế mà tạo nên tài hoa của một miền quê.
3. Đào hát, đào rượu - một khúc lận đận của ca trùĐã thành truyền thống, trước đây, ở nhiều miền quê thường tổ chức hội hè đình đám vào dịp mùa xuân. Có những trường hợp đặc biệt, không vào dịp lễ hội nào cả, nhưng một gia đình danh giá nào đó có việc khao vọng, người ta cũng đón cô đầu về hát. Và gia đình ấy sẽ được tiếng là sang, trong thôn ngoài huyện sẽ bàn tán và nhớ rõ lâu.
Trong mỗi nhóm hát, thường có khoảng ba người, hai cô đào sẽ thay nhau hát, và một kép chuyên gảy đàn đáy đệm cho đào nương. Kép nam mặc áo dài thâm, khăn lượt. Các cô đào thì chít khăn nhung, trong mặc áo dài lụa màu mỡ gà, ngoài khoác chiếc áo the mỏng, quần lĩnh tía, chân đi dép da. Họ có phong thái giản dị, khiêm nhường, đặc biệt là luôn nhẹ nhàng, ấm áp trong nói năng giao tiếp. Bao giờ cũng thế, lúc chủ và khách gặp nhau đều cung kính chắp tay, bên chào, bên đáp lễ, lịch thiệp và lễ độ. Khi chủ cùng khách an tọa, qua vài tuần trầu, nước thì người giúp việc mới mang trống và chiếc roi chầu tới. Có thể là người đứng đầu nhóm hát, cũng có thể là chủ nhà, thong thả nổi lên ba tiếng trống chầu. Và thế là bắt đầu, người kép vặn trục đàn đáy để chỉnh âm cho thật chuẩn; tiếng phách trong tay đào nương kêu lách tách ròn rã và gợi cảm, giọng thỏ thẻ mở đầu hai câu mưỡu: "
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách/ Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu". Ngay sau đó, chuyển sang hát nói, cả nhóm hoà cùng lời, cùng nhịp. Những bài hát thường được ưa thích là
Thu hứng (thơ của Đỗ Phủ),
Tỳ bà hành (thơ của Bạch Cư Dị). Lời thơ, ý tứ sâu sắc đượcc hát theo thể ca trù có sức rung cảm thật lớn. Và rồi các bài được mến mộ nữa, là
Thông minh nhất nam nhi của Nguyễn Công Trứ,
Người đẹp không thấy lần hai của Cao Bá Quát,
Đào Hồng, đào Tuyết của Dương Khuê. Nếu là những nhóm hát thông tuệ, có thể dùng những bài thơ nổi tiếng để ca ngâm làm xao xuyến người nghe, như các bài
Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan,
Thú Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh,
Thề non nước của Tản Đà...Những cung đàn, giọng hát có thể khiến người nghe say mê đến mức quên ăn, mất ngủ, bâng khuâng lòng dạ và luôn sống trong xúc cảm thẩm mỹ cao đẹp. Thú nghe hát cô đầu đâu phải là thú ô trọc?!
Vậy rồi, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số nơi đô hội xuất hiện những nhà hát, chuyên cho các buổi diễn cô đầu. Hà Nội là nơi những cuộc hát cô đầu có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Đầu tiên, chỉ xuất hiện đôi ba nhà hát cô đầu, chẳng mấy chốc đã phát triển như nấm. Như ở phố Hàng Giấy, cả dãy phố trở thành nhà hát cô đầu. Quãng phố Huế (ngày nay) thì có Nhà hát hai mươi bốn gian. Hát cô đầu thành cuộc thương mại. Các chủ nhà hát chỉ cần thuê, mượn độ một, hai đào hát thực sự để làm mồi, còn thì nuôi thêm nhiều cô gái để phục vụ rượu. Chẳng mấy chốc người ta gọi họ là
đào rượu. Các cô đào rượu không cần biết hát, không cần có giọng hát hay, cốt trông sạch mắt, biết chiều chuộng khách. Dần dần nghề đào rượu có những kỹ năng, như duyên dáng đa tình nâng chén rượu tận môi khách, nũng nịu dễ thương, nô đùa gợi cảm. Và, nhà hát không còn thuần nhất là chốn thanh tao nữa. Phần đông những quan viên đến nhà hát không phải chỉ để thưởng thức nghệ thuật ca trù nữa.
Những cô gái trở thành đào rượu, hầu hết là do những hoàn cảnh éo le, khổ sở. Có cô do nghèo đói, có cô do thất tình, cũng có cô do cần tiền để đua đòi ăn diện... nên tìm đến gặp chủ nhà hát. Thoạt đầu, chủ nhà hát cô đầu ngon ngọt dỗ dành và hứa hẹn rằng, các cô sẽ có lưng vốn và còn gặp may trong trường đời nữa. Chủ nhà hát nuôi các cô, nhưng các khoản ăn, mặc đều tính từng đồng, và nó thành một món nợ các cô mang mỗi ngày một nhiều. Các chủ nhà hát cô đầu hầu như đều là hạng anh chị đã qua các nghề gá bạc hoặc cầm đồ lấy lãi. Thực chất, họ là những Tú Bà. Do vậy, các cô đào rượu không thể giữ thân được nữa. Đến cái tên của họ cũng không còn là của họ nữa, mà trở thành Huệ, Hồng, Đào, Cúc, Vân, Tuyết, Yến, Oanh...Thế là họ đã dấn thân vào làng son phấn. Những năm đầu thế kỷ XX, ở Hà Nội, mỗi buổi chiều tà, trên các ngả đường Vạn Thái, Láng, Ngã Tư Sở, Vĩnh Hồ, các cô vận những áo dài xanh, vàng hoặc in hoa sặc sỡ, tốp năm, tốp bảy lượn đi lượn lại đầy đường, như đi hội. Gặp những khách si tình, hoặc bất cứ người thanh niên nào các cô cũng níu kéo, lả lơi chào mời. Khu vực phố Khâm Thiên, các cô đào chưa đến mức ra tận đường tìm khách, mà khi khách bước vào trong nhà rồi họ mới ra đón tiếp. Những nhà hát cô đầu ở đây, dẫu có đào rượu phục vụ, nhưng vẫn có những đào hát đáp ứng nhu cầu của khách ưa âm nhạc. Vào những ngày đầu tháng lương, khách đến các nhà cô đầu ở phố Khâm Thiên đông hẳn lên. Hầu như suốt dọc phố, quãng nào cũng nghe tiếng trống chầu, có lúc rộ lên như ếch nhái báo cơn mưa. Các cô đào sống một cuộc đời lấy đêm làm ngày. Khổ nhất là các đào rượu. Có khách là khổ nhục. Không có khách còn khổ đau hơn, nợ ăn, nợ mặc dày thêm. Nhiều cô đào liều thân bỏ trốn, nhưng đâu dễ thoát. Mong ước làm lại cuộc đời mỗi ngày một thêm xa vời. Có câu ca chua chát về thân phận những cô đào thời ấy: "
Lấy quan, quan bị cách/ Lấy khách, khách về Tầu/ Lấy nhà giầu, nhà giầu hết của...". Sự bế tắc của các cô đào tưởng như không có gì hoá giải nổi. Nhưng, đến tháng 8 năm 1945, Cách mạng thành công, chỉ trong vòng một tháng, các nhà hát cô đầu bị xoá sạch và các cô đào được giải phóng!
Dẫu có nhiều thập kỷ nghệ thuật ca trù bị vùi dập, nhưng phẩm giá của môn nghệ thuật này có sức sống thật lạ thường. Giữ được phẩm giá thanh cao cho nghệ thuật ca trù, là bởi có những đào nương luôn luôn nêu cao phẩm giá của mình ngay cả trong nhiều năm tháng gian khổ nhất. Đơn cử trường hợp đào nương xuất sắc nhất thế kỷ XX của nước ta, là Nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ. Quê đất Hưng Yên, là con của một đào nương tài hoa, Quách Thị Hồ được học nghề đàn phách từ năm lên 7 tuổi. Năm 1930, 1931 vừa vào tuổi đôi mươi, đào nương Quách Thị Hồ đã lên Hà Nội hành nghề, và được liệt ngay vào hàng ca nương quý hiếm. Để có thể sống và hát ca trù, Đào Hồ đã phải hát ở Nhà hát hai mươi bốn gian, và cả nhà hát ở Vạn Thái, những nơi nườm nượp đào rượu. Trong bất cứ hoàn cảnh nào đào Hồ cũng khiến thính giả say đắm nghệ thuật ca trù, và vì thế mà luôn giữ được phẩm giá. Đối nghịch với trào lưu đào rượu, ở Hà Nội những năm trước Cách mạng luôn có những đào nương danh giá, như Đàm Mộng Hoài, Nguyễn Thị Phúc, Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm và đặc sắc nhất là Quách Thị Hồ. Họ luôn tạo nên sự thanh cao trong nghệ thuật ca trù. Đương thời, người ta coi đào Hồ có giọng ca như báu vật của tạo hóa, với đủ độ vang, độ nảy, đủ rền và mượt. Trong giai âm của ca trù mỗi khi đào Hồ cất lời, có chất chứa sự đời, phập phồng những cuộc tình duyên, có mơ màng khói sương cùng chút tâm linh huyền diệu. Một chầu hát của đào Hồ có khi lên đến hàng trăm đồng Đông Dương. Và lạ lùng nhất là, tiền thu nhập cao như vậy đào Hồ không tiêu phí như những kẻ có tiền khác, mà toàn giúp đỡ những đào nghèo khó, cơ nhỡ. Cách mạng tháng Tám, đào Hồ xoá hết nợ cho chị em đồng nghiệp. Rồi kháng chiến, đào Quách Thị Hồ vẫn hát ca trù phục vụ ở các vùng Vĩnh Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên... Hòa bình lập lại, giọng ca Quách Thị Hồ lên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, rồi Đài truyền hình Việt Nam. Liên hoan ca nhạc quốc tế tại Iran năm 1976, giọng ca trù của bà đoạt giải Nhất. Năm 1978, tại Mông Cổ, bài
Tỳ bà hành do Quách Thị Hồ trình bày được tất cả hội trường đứng dậy hoan hô. Bà đoạt giải Nhất và một giải Hàn lâm. Năm 1983, tại Liên hoan ca nhạc quốc tế ở Bình Nhưỡng, bà lại đoạt giải Nhất và một giải Hàn lâm... Ngoài tám mươi tuổi, Nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ vẫn hát trên sóng phát thanh, truyền hình và khiến hàng triệu thính giả say mê. Có thể nói, người đào nương kiệt xuất của ca trù Việt Nam, Quách Thị Hồ, đã đi suốt hành trình ca trù thế kỷ XX vô cùng gian truân, và bằng cuộc đời ca hát của mình, đã làm vinh quang cho nghệ thuật ca trù Việt Nam.
Vào tháng giêng năm 2001, nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ lặng lẽ qua đời, thọ 91 tuổi. Rất nhiều điều khiến công chúng nghệ thuật còn nhớ mãi nghệ sĩ Quách Thị Hồ, trong đó có một điều là, những ngày cuối đời bà thường nói: "Tôi chỉ là một cô đào yêu nghề Tổ...". Điều đó thật bình dị, khiêm nhường, nhưng cũng khiến ta có thể tự hào sâu sắc về những người mà dân chúng thường gọi là
đào hát!
A.C