23:20 ICT Thứ tư, 19/06/2013

Trang nhất » Tin Tức » Sáng tác » Truyện ngắn

Hồn ma trên sông Sài Gòn

Thứ tư - 26/10/2011 09:39
                      Truyện ký của Thanh Giang

1.
Bến Bạch Đằng vào một buổi hoàng hôn không có ráng hồng, chỉ có mưa rây lác đác và mịn hơn thì cũng như mưa phùn. Gió lặng nên mặt sông Sài Gòn trông phẳng lỳ, trầm mặc một màu sáng đục uy nghiêm.

Trên con tàu nhà hàng COSEVINA 2, ở tầng giữa đã thiết bày một bàn tiệc nối dài suốt cả chiều ngang của con tàu. Trong khi chờ đoàn tàu cựu chiến binh Mỹ, chúng tôi ngồi nơi mấy cái ghế rời đặt sát lan can phía ngoài sông, ngắm nhìn trời nước. Ngớt mưa, mặt sông sẫm dần. Hai bên sông, nhất là ven bờ thành phố có nhiều bến cảng, những tàu thuyền ken dày, sầm uất, tuy nhiên vào buổi cuối ngày nên thảy đều đắm chìm trong tĩnh lặng. Thỉnh thoảng, một chiếc thuyền con, mui lá, chèo qua, hoặc một chiếc tam bản nhỏ, bơi bằng dầm. Mặt nước khuấy động lên chốc lát rồi lại chìm trong sâu thẳm cùng bóng đèn điện lung linh. Tự dưng, tôi quên mình đang ở chốn phồn hoa mà có cảm giác như sống lại thời tuổi thơ trên dòng sông hoang dã ở miền quê mang tên Cái Sấu. Những thằng bạn tắm truồng của tôi, chơi “cọc cạch bắt” đến mức rong đóng đầy khoé miệng, chúng đang ngụp lặn, bơi lội táo tác tìm tôi, réo gọi vang ầm cả khúc sông mà hai bên um tùm lá dừa nước cùng bóng bần, bóng gừa, bóng dừa thật sự đúng nghĩa nhất của ngôn từ sầm uất.

- Thằng Sơn trốn đâu biệt, hay chết chìm rồi, tụi bây ơi!

Đúng là giọng thằng Thu, mới 15 tuổi đã bể tiếng, khào khào như ngỗng đực. Rồi cả bọn ré lên. Giọng ngỗng đực hét:

- Mau lên bờ, quánh mõ hồi một, kêu làng xóm cứu nó!

- Tao đây! - Sợ chúng hoảng, làm thật, náo động, tôi lên tiếng. Và một bầy con nít choai choai ào ào bơi đến gần tôi. Bỗng chúng dừng hết lại, chỉ còn thấy những cái đầu tròn vo nhô lên hụp xuống, giữa mặt sông nhập nhoạng trông rùng rợn như bầy thủy quái. Trong đó có cái đầu hớt trọc, hướng hai hố mắt sâu hóm như đầu lâu nhìn thẳng vào tôi. Tôi rùng mình nhận ra cái đầu của thằng Trư. Chính giọng nó eo éo tri hô:

- Ồ! Không phải thằng Sơn của tụi mình, bây ơi! Nếu nó, sao nó không nhào xuống nhập bọn với mình?

- Tao đây mà! Mai Sơn - khỉ núi đây mà!

- Không phải! - Giọng ngỗng đực của thằng Thu gạt phắt, - Mầy mà cũng ngồi chung trên cái nhà hàng quý tộc, thượng lưu đó ư?

- Ai có tiền mua tiên cũng được mà. Tiền là tiên là Phật, là sức bật… Nhưng tao là lần đầu tiên. Tình bạn cốt tấm lòng thương tưởng, hỗ tương, gánh vác sự nghiệp cùng nhau…

- Ôi, cái thằng rô-bốt phát băng từ những lời hoa mỹ! Khi mà bè bạn đang ngụp lặn lạnh lẽo, lo âu cứu vớt sinh mạng cho mày. Cái tên cội rễ của mày đã chìm đâu trong bùn tục lụy bả lợi danh. Thảo nào mà tụi tao tìm mày khắp cõi dương gian không gặp, nên đang đi tìm mày dưới cung thủy tề…

Tâm linh tôi bỗng giật thót, vội thanh minh rằng là… là… Nhưng lũ bạn thời tắm truồng của tôi ngày càng nhao nhao hò hét, âm vang cả dòng sông đang tĩnh lặng, làm khuếch đại lên một loại âm hình kỳ dị, gây ấn tượng rùng rợn y như thuở nhỏ tôi coi thầy pháp trừ tà, khua cồn, đọc thần chú triệu âm binh thần tướng, nghe mọc ốc rùng mình, tưởng như hàng đàn, hàng lũ hồn oan, ma đói, quỉ cụt đầu từ cõi âm kéo về kêu đòi thánh thiện công minh, kêu đòi nhân quả…

Giữa hồi hoang tưởng, tôi cố gào lên biện hộ:

- Tình xưa tao không quên, tao không quên…

- Tình - xưa - không - quên… - Giọng eo éo của thằng Trư nhại lại. - Tao đánh trận Chợ Xếp hy sinh. Mày về Cái Sấu chẳng thèm đến viếng mộ tao!

Giọng thằng Thu chuyển “gam ngỗng đực” sang giọng nam trầm nghe như người lĩnh xướng khúc bi tráng trong dàn đồng ca:

- Tài năng mồ hoang - mộng mơ cỏ xanh - bước chân người đi - thềm vinh quang…

Tôi bàng hoàng thầm nhớ chuyến về Bến Tre cùng nhà văn Nguyễn Thi và họa sĩ Huỳnh Công Thu, đến Đồng Tháp Mười tôi bị vướng mìn clây-mo nằm lại. Đến bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp, Thu bị trực thăng Mỹ bắn hy sinh, nằm lại mãi mãi…

- Nè! Mấy ông bạn Mỹ đã tới đủ rồi - Một anh bạn chợt vỗ vai tôi và dẫn vào bàn tiệc.

2.
Bữa tiệc cao sang, ngốn đô, ngốn đồng, ngốn vàng dễ sợ, trong khi thực khách thì ăn uống nhỏ nhẻ, thừa mứa phát xót! Phía những ông bạn Mỹ bảo rằng: Được ăn trong những ngày ở Việt Nam, khi trở về Mỹ có thể không cần ăn mười ngày. Phía chúng tôi, trước khi đến đây đều qua bữa chiều. Trước sự  “no tới cổ”, những đồ ăn thức uống thịnh soạn được bày ra, bưng vào liên tiếp, thứ lớp, bài bản, chỉ là để “dọn cảnh cho một cuộc giao đàm”. Liên tưởng thường nhật cơm rau đơn sơ ở gia đình, đối lập với bàn tiệc “sầm uất” những lon, chai, ly, cốc, tô, thố, đĩa bàn, đĩa con, bát to, chén nhỏ, tôi bỗng có cảm giác như đôi mắt lộ của thằng Thu đang mở trừng trừng nhìn đằng sau gáy, làm những gai ốc vừa mới lặn rờn rợn nổi lên. Tôi muốn ngoái nhìn thì xuất hiện hai bàn tay trắng thò ra, nghiêng chai rượu Tây màu xanh đen rót vào cái ly thủy tinh hình hoa chuông đang yên vị trước tôi, dù rượu hãy còn. Chưa kịp liếc nhìn người hầu bàn, tôi buộc phải hướng mắt giao cảm ánh nhìn của một người Mỹ ngồi đối diện, đang đăm đăm nhìn mình tự bao giờ. Đôi mắt màu nâu sáng khép bớt vẻ u hoài, tư lự, phục thiện. Đó là nhà thơ Ehrhart, một lính thủy đánh bộ trong quân đội Mỹ từng chiến đấu ở Huế. Bắt được tần số giao cảm của tôi, anh trầm ngâm một lúc rồi dè dặt hỏi:

- Cách đây hai hôm, tôi nhớ ông đã kể chuyện thằng con ông phản ứng chúng tôi?

- Vâng! - Tôi mỉm cười - Nhưng nó đã được tôi đả thông, hết phản ứng rồi.

- Quá khứ cũng nên quên đi.

- Tự nhiên nó đưa đẩy. Vả lại hôm ấy các bạn chẳng đã gợi chúng tôi bày tỏ những ấn tượng là gì? Dù không để nó chi phối, nhưng cũng không dễ gì quên được quá khứ đầy ắp ấn tượng đau thương của từng cuộc đời và những ấn tượng bi kịch của cả dân tộc.

Ehrhart nâng ly biểu đồng tình rồi để xuống:

- Cố nhiên câu chuyện của ông hôm ấy đã gây ấn tượng đậm nét trong chúng tôi.

Bởi Ehrhart trót đã gợi, tôi xin lược chuyện. Chẳng qua chúng tôi cần tăng liều an thần, hòng giải chứng “quỉ ám” đang mắc phải…

Chuyện bắt đầu từ hôm nhận bức thư đóng dấu khẩn, làm cả nhà lo lắng nên phải công khai, hóa ra biết việc mời dự hội thảo với đoàn nhà văn cựu chiến binh Mỹ, khiến Sơn Con, thằng con nhỏ của tôi nó phản ứng. Rồi từ những viện dẫn, khai thông cho con hay đúng hơn là từ cuộc đối thoại với con, ký ức tình cảm tôi bỗng sống dậy những âm hồn…

Ngôn từ hoa mỹ, tâng bốc xã giao rồi cũng theo gió thoảng, tôi tường thuật ở buổi gọi là hội thảo bằng câu chuyện từ trong nhà mình. Trước khi… tôi muốn giãi bày nguồn cơn xui nên thằng bé nó phản ứng.


 
 Minh họa: Quốc Thắng


Năm ấy, anh em Văn nghệ Quân giải phóng chúng tôi gồm: nhà văn Nguyễn Thi, họa sĩ Huỳnh Công Thu và tôi, mở chuyến thâm nhập chiến trường đồng bằng mà mục tiêu hấp dẫn là Bến Tre - quê hương đồng khởi. Thương nhất là Thu vừa thoát trận sốt rừng, người gầy nhom mà phải cõng trên lưng cái ba lô “xưởng họa” nặng trịch, lại cắp theo cái giá vẽ bằng các-tông, ngoài các thứ hành trang còn vác thêm cuộn giấy to bằng trái đạn 220 ly. Có lẽ cũng nên nói về tác phẩm cuối cùng của Thu. Đó là tranh bìa tạp chí “Văn nghệ Quân giải phóng” số 7, vẽ người mẹ trẻ đi gài chông dưới trăng treo ngọn dừa, đằng sau là thằng nhóc chưa kịp mặc quần, ôm chông chạy theo mẹ. Nhân vật trong tranh cùng họa sĩ có tình ý. Người mẫu tranh là cô y tá Hồng Đào, vóc người thon thả, tròn căng sức sống, dù cho hằng bữa cơm rừng chỉ có măng le mắm ruốc. Tiếc thay người họa sĩ tài hoa cùng mối tình mộng mơ…

Vừa ra khỏi cửa rừng Tây Ninh, chúng tôi được “chào” một trận pháo 105 ly bắn cấp tập. Nguyễn Thi người cao to, “đô” hơn cả, xớt ngang cuộn giấy trên vai Thu giục: “Nhanh chóng vượt ra vòng pháo”. Chúng tôi đêm đi, ngày ém trụ, băng qua đồng “Chó Ngáp” xuống Đồng Tháp Mười với đôi chân sưng vù trong dép râu. Địch càn, tôi vướng mìn clây-mo, bị thương. Nguyễn Thi và Thu vất vả khiêng tôi gởi trạm cứu thương của tỉnh Kiến Tường. Hai người tiếp tục chuyến đi, đầy lưu luyến. Thu khóc, động viên tôi: “Mày nằm lại, đi sau, đừng buồn!”. Sau một tháng được chăm sóc, vết thương chưa lành hẳn, tôi chõi gậy lần theo, bấy giờ mới hay Thu đã bị trực thăng Mỹ bắn chết bên bờ kinh Nguyễn Văn Tiếp. Nhà văn Nguyễn Thi khóc ròng cùng anh em giao liên bơi xuồng trong đêm mưa đi chôn họa sĩ Huỳnh Công Thu ở nghĩa trang Cọp rằn Núi. Được dẫn đến nơi Thu bị trúng hỏa tiễn vỡ sọ, tôi chỉ biết nhìn cỏ mẹp còn vướng máu bầm và khóc than: “Mới hôm nào mày động viên tao nằm lại đi sau. Bây giờ đến đây thì mày nằm lại mãi mãi với đất nầy!”. Hôm ấy, vì sao tôi không tìm đến nghĩa trang Cọp rằn Núi thăm mồ Thu mà lại đi luôn về Bến Tre kia chứ? Không một lý do nào có thể bào chữa cho lòng ân hận. Mãi đến sau hòa bình, nhiều lần về quê, ngang qua Mỹ Tho, tôi cũng không hề… Thảo nào, lòng ân hận ám hồn ma bóng quế, luôn đặt tôi trước vành móng ngựa của lương tri…

“Mồ còn đất mới đã làm ngơ, huống gì tình xưa!” - Giữa không gian rực rỡ ánh điện của một phòng khách sang trọng, tôi bỗng nghe âm vang ma quái tiếng cười và giọng ngỗng ồ ề - Nhát ma mầy chi tội, tao theo mầy cốt nhìn đời chơi. Từ cõi âm nhìn cõi dương, nhìn thấu tim đen. Nực cười! Con người sợ ma mà lại ham “ma lực”. Nói trắng là quyền lực. Quyền lực hấp dẫn sinh tranh giành, ganh ăn, ti tiện, vô ơn, lừa đảo, ám hại (cốt nhục cũng không từ thì tình xưa nghĩa cũ ra gì), dấn sâu hơn, sát phạt đẫm máu, diễn biến quy mô, chiến tranh giữa các cộng đồng, thậm chí xâu xé cộng đồng… Ôi quyền lực - ma lực! Nực cười! Ấy vậy mà vẫn sợ ma! Hãy nghe thiên hạ họ rủa nhau. Đồ quỷ tha ma bắt! Rồi: Hội chứng quỉ ám. Rồi: thầy phù, thầy pháp, thầy mo, cả linh mục và nhà chiêm tinh vẫn hữu dụng trên đời. Chẳng hạn bà Mac Lean, chủ bút tờ Washington đã dám đeo viên kim cương “Hy vọng” nổi tiếng xui xẻo bởi ai đeo nó đều gặp phải bất hạnh, còn bà thì đeo nó thoải mái vì nhờ một linh mục trừ tà. Nói trừ tà, ám quỉ, thực ra các thầy một mực cầu khẩn, van vái, cúng tế rất đàng hoàng, hương đăng trà quả là lẽ thường, đòi cúng con vật, thậm chí đòi tế cả con người. Chuyện huyền thoại nói ra làm gì. Ngay anh hùng Tạ Quang Tỷ, hồi nhỏ chuyên môn đi ở đợ, dám lãnh tiền tử gởi về nuôi cha, chịu cho người ta tống quái mình ra biển khơi Rạch Giá, trên con thuyền mục nát. Có lẽ ôn binh chê gầy nên tha mạng. Tỷ tấp vào Hòn Khoai, ba tháng sau đón ghe buôn về đất liền, nhưng không dám về xứ, sợ người ta đòi tiền lại, đi theo bộ đội luôn. Năm đụng với sư đoàn “Anh cả đỏ” Mỹ tại trận Căm Xe, Tỷ động viên đơn vị chiến đấu bằng một câu trở thành chân lý: “Không đánh giặc, cuộc đời chỉ còn đi ở đợ mà thôi!”. Hồn thiêng gặp hồn thiêng. Tiếng nói miền siêu âm, con người làm sao nghe được. Quá khứ có thể quên đi hận thù, nhưng những ấn tượng đau thương thì bao giờ nguôi!...”

Lúc bấy giờ, nhìn những gương mặt của đồng nghiệp từng lăn lộn chiến trường, cùng những gương mặt hôm qua là đối phương tác nhân bao thảm họa, tôi như người lên đồng, được nhập bởi những linh hồn đồng đội. Đầu lưỡi tôi đang là lời thằng Thu:

“Nhà văn Nguyễn Thi chôn trong lòng nỗi bất hạnh, dâng hiến tâm huyết cho đời, lo hạnh phúc cho đồng đội, chính là mày đó Sơn ạ! Đêm hôn lễ của mày dầm trong mưa ngâu, dầm trong tầm đạn pháo 105 ly từ tỉnh lỵ nã sang. Trong cảnh đó, Nguyễn Thi - người chủ hôn đàng trai vừa chủ lễ - điềm nhiên ngồi cắt hình chim bồ câu, cắt chữ hoa lồng tên đôi “uyên ương” trang trí trên nền tấm phông xanh. Còn thương đứt ruột là nàng Ngọc của tao. Dù chỉ mới là lời hứa, cũng coi như một kiếp thờ chồng, nàng mang khăn tang khóc tao, giữa hạnh phúc của mày! Tao vừa lau đôi mắt đỏ mọng của nàng, vừa nâng ly rượu nồng chúc bạn. Trong mưa, trong tiếng súng, các em thiếu nhi Tân Thành Bình múa ca. Ca rằng: Xã chúng em vừa có anh hùng, vừa có nhà thơ. Anh hùng Nguyễn Văn Tư, ông tổ đạo binh ong vò vẽ. Nhà thơ Lê Anh Xuân với Hoa dừa, với Dáng đứng Việt Nam. Anh hùng hy sinh đi vào thơ. Nhà thơ hy sinh đi vào lòng người… Còn Sơn, anh đi với vợ là cô Bí thư Chi bộ xã, trong đội quân tóc dài, tuần trăng mật dã chiến dưới tầm bom đạn Mỹ. Rồi anh lên rừng, chị bám đất. “Bầu tâm sự” trải 9 tháng 10 ngày trong ác liệt chiến tranh. Ngày bé chào đời, bom dội. Mẹ bồng con đỏ xuống hầm, đưa lưng ra che đạn…”.

- Thôi, tóm đi! - Ở sau lưng tôi ai đang giục.

- Miệng lưỡi tôi bây giờ là của hồn thiêng đồng đội - tôi chống chế - Như Nguyễn Thi, nhà văn trả giá đắt cho những trang viết bằng máu. Tài năng đang độ chín, một phát hỏa tiễn từ trực thăng Mỹ nổ tung, máu đẫm trên trang đời anh đang giữa chừng. Cũng như Lê Anh Xuân, Huỳnh Công Thu và hàng bao nhiêu tài hoa nữa, những con người đáng sống ấy hẳn cùng ngồi chung với chúng ta đêm nay.

- Nhưng mà khung cảnh này nói ai nghe? Người ta đang nóng về xem ti-vi truyền trực tiếp bóng đá Mundial chín mươi!

Tôi ngậm ngùi nói gọn:

- Thằng con đầu của tôi mới hai ngày tuổi đã nếm mùi bom đạn chiến tranh, hiện đã tốt nghiệp cử nhân khoa học. Lẽ ra phản ứng cuộc gặp mặt này là nó. Nhưng trái lại là thằng em, Sơn Con - tuổi hơn mười, được sinh trong hòa bình. Không ngờ nó nhỏ mà ấn tượng rất sâu những chuyện tôi vừa kể. Với vẻ bặm trợn, giọng ấm ức nó nói: “Hồi nào người ta đánh mình gây bao đau thương tang tóc cho dân tộc mình, bây giờ mình đi bắt tay người ta!”. Tôi phải khai thông, viện dẫn Mo-ri-sơn tự thiêu bên bờ sông Pô-tô-mac phản đối chiến tranh Việt Nam; kể cả một phi công Mỹ phát điên sau khi ném bom nguyên tử xuống đất Nhật, thằng bé mới dần dần nghe ra. Và tôi nhấn mạnh:

- Đó là vì quân lệnh bắt buộc.

- Không! Chúng tôi không phải bị bắt buộc mà là tự nguyện. - Ehrhart bỗng cải chính, lôi tôi trở về cuộc đàm thoại ở con tàu nhà hàng, mà tôi cố tình lập lại hầu “bào chữa” cho cá nhân người tiếp chuyện.

Với giọng rắn rỏi, Ehrhart khẳng định:


- Chính vì tự nguyện nên chúng tôi thấy mình có lỗi. Thế thì các ông không căm thù chúng tôi sao?

Câu hỏi khó, nhưng linh cảm chân thành, tôi đáp:

- Theo số liệu của Hội cựu chiến binh Mỹ mà tôi được biết: Sau chiến tranh Việt Nam, có ít nhất sáu mươi ngàn cựu chiến binh Mỹ tự sát. Đương nhiên không hẳn hầu hết đều cùng mặc cảm tội lỗi. Riêng với các bạn hôm nay, chúng tôi biết phân biệt. Tôi cho rằng cuộc gặp này, không thuần túy là gặp mặt, mà là cuộc gặp của những tâm hồn. Là nhà văn, chúng ta cùng có thiên chức hướng con người đi đến điều thiện, sự thật, và mỹ cảm. Nếu điều tôi nói, không phản lại cảm nhận chủ quan của tôi thì tôi rất vui mừng!

- Ô kê!

Mất hẳn vẻ u uẩn ban đầu, Ehrhart nhướn mày, cụng ly cùng tôi và uống cạn. Rồi có phần hứng khởi, anh lấy trong túi xách ra bài thơ được đánh máy và photocopy, ký tên tặng tôi. Bài thơ dịch sang tiếng Việt, nhan đề: “Dạy trẻ em ngoan”. Tứ thơ hàm súc, nói về thời lính mũ nồi xanh, gieo tai họa kinh khủng, để nơi ấy bây giờ người ta lôi ra làm ông ba bị (hay ông kẹ theo dân gian Nam Bộ) hòng dọa trẻ con.

Chờ tôi xem xong bài thơ, với vẻ mặt vui, Ehrhart hỏi:

- Nếu bây giờ tôi đến nhà thăm ông, con ông có đánh tôi không?

- Chẳng những không mà còn đem rượu và trái cây mời bạn. Còn mẹ nó sẽ cười vui mà nói rằng: Đạo lý Việt Nam có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”.

- Cám ơn! - Đôi mắt màu nâu sáng của Ehrhart hơi khép với vẻ xúc động, tình cảm cởi mở, anh lấy ảnh vợ con ra cho tôi và mọi người xem, đưa câu chuyện trở về cuộc sống đời thường. Sau đó là cuộc trao tặng ảnh cùng ấn phẩm của nhau.

3.      
Trăng rằm vằng vặc lửng lơ treo trên không trung. Đó là “ngọn đèn trời” mà tôi và thằng Thu chọn làm thời điểm cho đêm ăn tôm “tả-pí-lù” trên dòng sông Cái Sấu (dè đâu đã trở thành kỷ niệm tuổi thơ không bao giờ phai). Từ giữa chiều, hai thằng tôi đã đi chặt một ôm cần câu bằng cây sậy, tướt cọng lá dừa làm nhợ, lượm dừa chuột khoét, cạy cơm nướng làm mồi, đem cắm dài theo hai bờ sông lúc nước vừa nhửng lớn. Năm thằng “ngũ quỉ” chúng tôi, trong đó có thằng Trư được giao mỗi đứa cụ bị đem theo: đứa thì rau sống, bánh tráng mỏng, đứa thì tương ớt, soong dấm, đứa thì hỏa lò, thang đước; thằng Thu thêm cây mandoline, tôi thêm cây sáo trúc, dưới ánh trăng treo, chúng tôi cho thuyền ngược dòng nước lớn ra vàm, chơi những bản: Con thuyền không bến, Đêm đông, Thiên Thai, Lỡ chuyến đò… Khi chúng tôi quay thuyền vào thì nước lớn, chỉ việc ngồi trên thuyền, thọc vợt xuống từng cần câu tôm đã cắm sẵn, thế là vớt tôm lên, ngắt đầu, bóc võ, nhúng dấm, cuốn bánh tráng, rau sống, chấm tương ớt. Con thuyền trôi lênh đênh theo dòng. Tôm vớt lên, ăn không kịp, thả xuống cái rộng treo cặp bên mạn thuyền. Những thằng choai choai ngày ấy chưa hề bén tới mùi rượu, chớ có ba-xị-đế hồi đó thì tuyệt.

Đất nước đang lo xóa đói giảm nghèo mà hưởng thụ quá sang: tôm càng nướng nguyên con, cụng ly whisky cùng những người Mỹ - những người của đối phương hôm qua từng gieo đau thương tang tóc cho dân tộc mình! Ấn tượng chiến tranh, ấn tượng bi kịch, dù là dĩ vãng đã lùi xa hàng thế kỷ, vẫn không thể xóa nhòa…

Miếng tôm nướng tôi đang nhai bỗng trở nên khô khan, chả chẹc như một miếng bã. Không phải vì nó thiếu đồng bộ: bánh tráng, rau sống, tương ớt. Mà vì tiếng nói từ trong đôi mắt lộ của họa sĩ Huỳnh Công Thu đang rót thẳng vào tai tôi, đang chập vào tần số tâm linh tôi. Gai ốc mọc lên, tôi vội lảng tránh cập mắt lộ thật sự đầy ma lực, nhìn ra phía ngoài sông. Một cảnh tượng đột nhiên làm tôi hãi hùng. Từ ven bờ Thủ Thiêm, những đốm lửa ma trơi vàng khè đang chạy như kéo cờ về phía hạ lưu. Tôi không tin vào mắt mình, quay nhìn về bến Bạch Đằng hòng xác định vị trí thực tại, thì cũng lại thấy những đốm đỏ, đốm vàng còn xen những đốm đỏ đốm xanh, rùng rợn như ảo giác cõi âm ty! Rợn tóc gáy, tôi véo mạnh vào đùi, vừa lúc bắt gặp một ánh nhìn của đôi mắt đen nhánh trên gương mặt người Mỹ da màu. Tiếng cô phiên dịch trong trẻo cất lên:

- Tôi muốn nói chuyện cùng ông!

- Rất vui lòng - Tôi đáp, vừa định thần nhìn anh ta. Thì ra đó là nhà thơ Yusef, người đã siết chặt tay tôi sau khi nghe tôi kể chuyện về gia đình và chuyến đi trải qua ác liệt, thương vong, hôm đêm diễn ra hội thảo.

- Tôi thực sự xúc động về câu chuyện của ông đêm hôm ấy - Yusef giọng trầm sâu, từ  tốn - Tuần trăng mật của ông cũng như những ngày sinh nở của vợ ông đều bị phũ phàng dưới tầm bom đạn Mỹ - Vừa nói, Yusef vừa  nâng hai bàn tay đập xuống nhiều lần - Tôi càng cảm phục và thương tiếc vô cùng những đồng nghiệp của ông bị sát hại bằng bom đạn khi mà trong tay chỉ cầm bút và cọ vẽ. Dù ngày ấy chỉ là một nhân viên thông tin, tôi vẫn luôn tự thấy mình có tội. Lần này, thêm những sự kiện làm buốt nhói tim, tôi sẽ kể lại cho đồng bào tôi cảm thông hơn, cần có những hành động gì thiết thực hơn.

Vẻ mặt Yusef sẫm tối, khắc khổ, hay chính gương mặt anh vốn lúc nào cũng thế.

- Cám ơn những lời chân thành của bạn - Tôi đáp. - Nhưng bạn cũng không nên kéo dài mặc cảm tội lỗi. Như tôi đã nói, vợ con tôi, cũng như đồng bào tôi vốn giàu lòng vị tha.

- Nhưng phải nắm thằng có tóc! Muốn cứu con cóc, phải giẫm chết con rắn độc!.

- Bạn có nghe lời người chết đang nói? Người chết đã trả giá bằng cuộc sống. Không phải một mà hàng nghìn đời mới nói được lời chân lý trả về cho cuộc sống.

Chạm cốc tôi, uống cạn, vẻ mặt Yusef càng tư lự xa xăm, giọng trầm hẳn.

- Đối với tôi, đây là một chuyến đi sám hối, hầu mong hàn gắn vết thương lòng. Tôi không có được nghĩa cử như bạn tôi: bỏ lại những huân chương của Chính phủ Mỹ tặng nơi nghĩa trang liệt sĩ Việt Nam; không như  Rottman đã trao trả pho tượng Phật cho dân Hóc Môn. Tôi chỉ có tấm lòng. Tôi sẽ kể và viết những điều xúc động ở Việt Nam, một đất nước đi lên từ chiến tranh, vượt qua mọi thử thách trong tình trạng bị cấm vận của Mỹ. Tôi không có tham vọng nào khác. Biết rằng, mỗi cuốn sách viết về Việt Nam, nhà xuất bản có thể trả tiền trước, có thể nuôi sống gia đình vài năm. Nhưng thôi… gia đình tôi… Nhưng thôi, xin các ông đừng có hỏi.

Trong đôi mắt u buồn trên gương mặt da màu sẫm tối ấy, tôi nhận thấy đang bừng sáng một tâm hồn đa cảm, thánh thiện. Hy vọng cảm giác không đánh lừa mình. Rồi để khẳng định không là chiêm bao, tôi quay nhìn ra sông với một nỗi ma trơi ám ảnh. Lạ lùng, đàn ma trơi vẫn còn chạy vùn vụt. Bỗng một chiếc tàu nhà hàng khác chạy ngang qua thật nhanh. Từ bên ấy vang lên khúc nhạc sôi nổi và từng đôi nam nữ quấn quýt nhau nhịp nhàng. Tôi nhận ra thực tại nhờ ai đó vừa thốt lên: COSEVINA l đang trở về bến. Chiếc mình đang chạy lên, kìa Thanh Đa, sắp qua cầu Bình Triệu nhé! Tự nực cười mình, tôi thừ ra, lặng nhìn dòng sông Sài Gòn bảng lảng trong đêm sương. Thì ra đàn ma trơi chạy lùi về hạ lưu kia là những đèn điện. Đa cảm chi cho cõi âm hốt hồn, tôi nào hay con tàu nhà hàng quý phái tự bao giờ đã nhổ neo chạy trên dòng sông diễm lệ. Hay cũng chính từ dòng sông đô hội xui tôi trở về với dòng sông hoang dã cội nguồn. Hay ngược lại, chính dòng sông Cái Sấu đầy ắp kỉ niệm tuổi thơ luôn thầm gọi tôi về, luôn thầm nhắc tôi, những thằng bạn thời tắm truồng hằng tìm kiếm. Kìa, thằng Thu đang hướng đôi mắt nồng ấm nhìn tôi. Bằng giọng trữ tình thống thiết, nó phả vào cõi tâm linh tôi một luồng âm khí dựng tóc gáy:
        
Đỏ lừ đàn ma trơi

        Buông màn đen bí ẩn
        Ảo thuật tấn trò đời
        Tình xưa chôn dĩ vãng
        Tri âm còn bao người
        Câu thơ hồn tương tri…
        Anh linh chiến trường cũ
        Hội tụ nguyên khí hùng
        Dựng hài cốt hàng ngũ

        Trống nhịp đi hành quân

Con tàu nhà hàng đã trở về và nhẹ nhàng cập bến tự bao giờ. Bầu trời bến Bạch Đằng vẫn đầy mây mù, nhưng không mưa, tạo nên một không gian trung hòa ánh điện, tựa như đêm trắng ở miền cực bắc bán cầu. Ký ức tôi lưu động một đêm như huyền thoại, đêm hội thuyền trên dòng sông hoang dã cùng con tàu nhà hàng Cosevina trên dòng sông phồn hoa, cùng bầy tiệc “tôm”: chất liên tưởng cùng hội cùng thuyền, không chỉ cùng trên hành tinh, từng đối đầu giữa hai trận tuyến mà còn có những con người từ hành tinh khác, cừ cõi khác: cõi âm, cõi trần thế, cõi thiên đàng. Mọi người không ai có bóng, chỉ có người này là bóng của người kia: người sống, bóng của người chết và ngược lại. Mọi người đã trở lại là bạn bè không hề vương thù hận.

Trời về khuya, đêm trắng càng tĩnh lặng. Yusef mở vòng tay lực lưỡng ôm hôn từ biệt tôi, hai con người hòa một. Không ai thốt lên lời. Song lời chân tình âm vang trong đôi mắt. Tương phản màu da tôi tối, vẻ mặt hiền lành đượm buồn, đôi mắt anh bấy giờ long lanh sáng, sâu thẳm, như đang sám hối trước những hồn đau, mong hàn gắn vết thương lòng.                 

Nguồn tin: Tạp chí Văn nghệ Quân đội

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn