02:18 Chủ nhật, 20/05/2012

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Hội thảo thơ vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, hữu nghị và phát triển (phiên khai mạc)

Thứ sáu - 03/02/2012 09:12
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà cùng ban nhà văn trẻ trước thềm khai mạc Ngày thơ Việt Nam lần thứ X

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà cùng ban nhà văn trẻ trước thềm khai mạc Ngày thơ Việt Nam lần thứ X

TCNV- Chiều 02 tháng 02 năm 2012, Liên hoan thơ châu Á Thái Bình Dương diễn ra Hội thảo chuyên đề về thơ " vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, hữu nghị và phát triển" với các báo cáo của GS, nhà thơ dịch giả Chúc Ngưỡng Tu, Nhà thơ Nga N. V. Pereiaxlov, Nhà thơ tiến sĩ Mamta G. Sagar, Nhà thơ Trần Nhuận Minh, Việt Nam, Nhà thơ Holly Thompson, Nhà thơ Phó Giáo sư Dinah Roma Sianturi (Philippines). Phóng viên tạp chí nhà văn xin giới thiệu 4 tham luận nổi bật của đại biểuTrúc Ngưỡng Tu (Trung Quốc), đại biểu Mamta G. Sagar (India), đại biểu Trần Nhuận Minh (Việt Nam) và đại biểu Dinah Roma Sianturi (Philippines)  diễn ra trong phiên họp thứ nhất. 

 
Chúc Ngưỡng Tu (Trung Quốc)
 


Vài ý nghĩ về thơ và việc dịch thơ 
 
Văn đàn Việt Nam đang song hỷ lâm môncùng một lúc có hai việc vui mừng, song song cùng một lúc tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10 (2012) và Liên hoan thơ Châu Á lần thứ nhất. Đây là Ngày hội lớn làm nức lòng các nhà thơ và những người ưa thích thơ ca của Việt Nam và của châu Á. Được tham dự hai cuộc mừng vui này là một vinh dự lớn đối với cá nhân tôi.  Trước mặt rất nhiều nhà thơ và rất nhiều người sành thơ, một người không phải nhà thơ như tôi lại nói về thơ, chẳng khác gì múa rìu qua mắt thợ. Nhưng cuộc Liên hoan lần này là một dịp quý báu để các bạn cùng nhau thưởng thức thơ, giao lưu thơ và bàn luận về thơ, vậy nên xin mạnh phép trình bày vài ý nghĩ về thơ và dịch thơ, mong được coi như ý kiến của một độc giả-dịch giả đóng góp cho Liên hoan.
Thơ ca là tinh hoa ngôn ngữ của một dân tộc, là tiếng nói của thời đại, cũng là kết quả lắng chìm của lịch sử văn hóa. Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do ông Nguyễn Như Ý chủ biên: “Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có nhịp điệu, vần điệu để thể hiện ý tưởng và cảm xúc nào đó của tác giả một cách hàm súc.”(Tr. 1588) Cổ nhân Trung Quốc có câu “Thi ngôn chí”, nghĩa là tác phẩm thơ nói lên ý chí, tình cảm của thi sĩ. Với nhà thơ, thơ ca như bút vẽ của họa sĩ vẽ nên những bức tranh đẹp, như con dao của nhà điêu khắc làm ra những pho tượng đẹp.
Việt Nam là đất nước nên thơ, con người Việt Nam là người yêu thích thơ. Trong tiếng Việt, thơ không những là một danh từ, mà còn chuyển nghĩa sang một tính từ, nó chỉ một cái gì đó rất đẹp, ví dụ “nên thơ”, “thơ mộng” vv, ta có thể nói phong cảnh nên thơ, phong cảnh rất thơ, phong cảnh thơ mộng, mối tình thơ mộng…Tại miền Trung Việt Nam, có cả nón bài thơ hoặc nón thơ chỉ loại nón mỏng, trắng, soi thấy các hình trang trí ở bên trong, trông rất đẹp. Miền Nam Việt Nam thậm chí có cả tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ.
Sau chuyến thăm Việt Nam về nước, nhà văn Trung Quốc Tưởng Tử Long có viết: ”Việt Nam có rất nhiều nhà thơ, những người mà chúng tôi gặp mặt tại Hội nhà văn từ Bắc chí Nam, hiếm có người nào không phải là nhà thơ. Đặc biệt là có khá nhiều viên chức hành chính, khi được giới thiệu cho chúng tôi đều đặc biệt nhấn mạnh tư cách nhà thơ của họ… Theo tôi, sở dĩ Việt Nam có nhiều nhà thơ là có hai nguyên nhân: một là vì người dân Việt Nam giàu tình cảm lãng mạn bẩm sinh, hai là vì ngôn ngữ tiếng Việt dễ viết thơ. Chính vì mọi người đều thích viết thơ, cho nên trong mối quan hệ với nhau, lại thêm một sắc thái thú vị và rất người – tặng thơ cho nhau và ngâm thơ của nhau… ”
 
II
Thơ ca là của cải quý báu của loài người. Mối giao lưu thơ ca giữa các nước và các dân tộc đã có từ lâu. Không ai có thể phủ nhận được vai trò quan trọng của thơ ca trong việc giao lưu văn hóa. Giữa các dân tộc, thơ ca tuy khác nhau về tiếng nói và chữ viết, nhưng đều có vẻ đẹp thẩm mỹ với ngôn ngữ bóng bảy, cao nhã, hàm súc, lời ít ý nhiều, là chất dinh dưỡng văn học có thể bổ cho nhau. Thơ ca của một dân tộc có thể và cần phải hút lấy dinh dưỡng từ thơ ca của dân tộc khác. Ví dụ tại Trung Quốc, việc dịch và giới thiệu thơ phương Tây và thơ Nga thơ Nhật, đã có đóng góp lớn vào việc hình thành thể thơ mới – thơ phá luật tức là thơ tự do--vào đầu thế ký trước. Tại Việt Nam, thơ luật Trung Quốc đã có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo ra các thể thơ mang đậm đặc sắc dân tộc là thơ lục bát, thơ song thất lục bát.
 
Tuy thưởng thức thơ là niềm hưởng thụ vui sướng về tâm lý và tinh thần, nhưng việc này lại không lấy gì làm dễ dàng. Thưởng thức thơ ca trong nước đã là việc khó, còn thưởng thức thơ ca nước ngoài thì lại càng khó hơn. Nếu không qua khâu dịch thuật, thì người không biết tiếng sẽ không thể nào hiểu được ý thơ, nói gì đến thưởng thức thơ. Cho nên, nói về giao lưu thơ ca là phải nói đến công việc dịch thơ.
 
Chúng tôi cho rằng, việc giao lưu thơ ca giữa các dân tộc có hai hình thức: giao lưu trực tiếp và giao lưu gián tiếp. Giao lưu trực tiếp tức là nhà thơ viết thơ luôn bằng tiếng dân tộc khác không qua phiên dịch. Ví vụ các cụ Nhà Nho ngày xưa và Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam đã từng làm thơ bằng chữ Hán. Nổi bật nhất là Chủ tịch Hò Chí Minh. Lúc sinh thời, Người đã viết gần 170 bài thơ chữ Hán, bao gồm tập Nhật ký trong tù rất nổi tiếng và nhiều bài thơ luật khác. Có thể nói, chủ yếu bằng thơ chữ Hán của Người, lịch sử dòng văn học chữ Hán của Việt Nam được kéo dài thêm những mấy chục năm sau khi bãi bỏ chế độ khoa cử và phổ biến chữ Quốc ngữ.
 
Lẽ tất nhiên, phải người cực kỳ thông thạo một sinh ngữ thì mới có thể viết thơ bằng sinh ngữ ấy để trực tiếp giao lưu với người có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ ấy. Thông thường, việc giao lưu thơ ca phải bằng hình thức gián tiếp, tức là phải qua một cây cầu nối, đó la dịch thuật. Đa số người thưởng thức thơ nước ngoài đều phải qua bản dịch.
 
III
Ngôn ngữ thơ ca rất đặc sắc, là thứ ngôn ngữ nghệ thuật, giàu tình cảm, giàu tưởng tượng, có vẻ đẹp thẩm mỹ cả bên trong lẫn bên ngoài. Nếu văn xuôi hay nói ngay nói thẳng theo kiểu “nói toạc móng heo” thì thơ ca thường nói theo lối uyển chuyển, bóng gió, ý tại ngôn ngoại, không một hình thức văn học nào dùng nhiều phương tiện ngôn ngữ như thơ ca. Nếu ví văn xuôi là hạ tầng cơ sở, thì thơ ca sẽ là thượng tầng kiến trúc của ngôn ngữ. Vì vậy, trong các loại văn bản và thể văn, thơ ca là khó dịch nhất, thậm chí trong giới dịch thuật có người cho rằng, thơ ca là “bất khả dịch” (không thể dịch được).
 
Chúng tôi cho rằng, mỗi bài thơ đều chứa bên trong một số ý nghĩa và thông tin, dù khó hiểu đến đâu đi nữa, nó vẫn nằm trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ của con người, cho nên, về cơ bản thì có thể lý giải suy tư trình bày bằng ngôn ngữ khác, nghĩa là thơ ca hoàn toàn có thể dịch được. Tuy thơ ca có thể dịch được, nhưng làm thế nào để chuyển ngữ được một cách trung thực và đầy đủ nội dung ý nghĩa, phong cách và vẻ đẹp của một bài thơ thì lại là việc cực khó.
 
Cũng như dịch tác phẩm văn học khác, tiêu chuẩn dịch thơ là đúnghay. Đầu tiên là phải dịch cho đúng, nghĩa là dịch giả phải trung thành với nguyên tác, truyền đạt đầy đủ các thông tin chứa trong bài thơ.
Thứ hai là phải dịch cho hay, nghĩa là thơ dịch phải ra thơ, không nên dịch thành văn xuôi tách dòng. Không những phải dịch hết ý, mà còn phải chuyển đạt phong cách, chuyển tải vẻ đẹp thẩm mỹ của thơ ca. Phải coi trọng “thi cảm” trên cơ sở tôn trọng nguyên tác. Đúng như lời của ông Quách Mạt Nhược, thi hào Trung Quốc khi nói về việc dịch thơ luật ra tiếng hiện đại: Nếu bài gốc là một chai rượu Mao Đài (loại rượu ngon nhất Trung Quốc) thì bài dịch ít nhất cũng phải là rượu trắng, chứ không nên là nước lã!
Về việc dịch thơ, chúng tôi lưu ý, người Việt Nam có cách làm rất hay khi dịch thơ luật chữ Hán ra tiếng Việt, thường chia làm ba bước: dịch âm (dịch chữ), dịch ý và dịch thơ, kèm theo một số chú thích. Độc giả vừa có thể thưởng thức nguyên tác, vừa có thể hiểu ý thơ và thưởng thức thơ.
Khác với dịch thuật văn bản hành chính-pháp luật-kinh tế-khoa học, việc dịch văn học, nhất là dịch thơ ca, là một công việc mang tính chất sáng tạo. Nếu dịch cứng, dịch thẳng, dịch một cách máy móc, sẽ đánh mất cái hồn, cái chất thơ của nguyên tác, làm thế khác nào diệt thơ.
Để dịch thơ cho hay, cho hấp dẫn, dịch giả phải làm sao mang vào các dòng chữ dịch của mình cái hồn của tác giả gửi vào thơ. Xin nêu một ví dụ sinh động: Câu thơ mối tình thắm thiết Viêt-Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em của Chủ tịch Hồ Chí Minh được dịch bằng tiếng Trung là Việt Trung tình nghĩa thâm, đồng chí gia huynh đệ (越中情义深, 同志加兄弟), cho đến ngày nay vẫn được nhiều người Trung Quốc truyền tụng.
 
Thiết nghĩ, trong hai tiêu chuẩn dịch thơ nêu trên, nên đặt tiêu chuẩn thứ hai lên hàng đầu, nghĩa là đặt cái hay lên trên cái đúng. Rất nhiều trường hợp, nếu dịch sát nghĩa, dịch một cách quá ư chính xác thì sẽ làm mất vẻ đẹp của thơ. Trái lại, nếu dịch linh động, dịch sáng tạo, thì tuy chữ nghĩa có thể chệch nguyên tác, nhưng người đọc lại thấy hay, hoặc chí ít cũng có thể chấp nhập được. Xin nêu một ví dụ cụ thể:
     Trong Truyện Kiều bản dich tiếng Trung của Giáo sư Hoàng Dật Cầu
Oan kia theo mãi với tình (câu 2673)
Một mình mình biết, một mình mình hay (câu 2674)
Được dịch thành:
端为多情招祸 (Đoan vị đa tình chiêu họa)
多才识,也招怨尤 (Đa tài thức dã chiêu oán hưu)
Có thể hiểu là:
Quả vì đa tình mà chuốc lấy tai họa,
Tài giỏi biết nhiều cũng chuốc lấy oán lo.

Trong bài bình luận Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch, Giáo sư Việt Nam Phạm Tú Châu cho rằng, so với nguyên văn, thì câu dịch có một “khoảng cách xa tít mù đến mức không còn thấy bóng dáng của nhau nữa”. Chúng tôi cho rằng, ý kiến nhận xét này rất là đúng, tuy bà nói văn vẻ, lịch sự, tránh dùng chữ sai. Tuy nhiên, nếu xét về văn cảnh và ngữ cảnh của hai câu thơ này trong bản dịch, thì cách dịch của giáo sư Hoàng Dật Cầu vẫn có thể chấp nhận được, vì có nói lên một sự thật là nguyên nhân dẫn đến cái kiếp rặt những đoạn trường của Nàng Kiều là vì nàng đẹp, đa tình, tài giỏi. Cho nên hai câu dịch này vẫn ăn khớp với câu chủ đề của tác phẩm là “Trăm năm trong cõi người ta/Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau ”. Vậy thì sai mà không sai, có nghĩa là xét về mặt chữ nghĩa thì bản dịch bị sai lầm, nhưng xét về mặt ý nghĩa thì bản dịch không phải là sai, chứ ít nhất độc giả Trung Quốc không hề thấy có gì không ổn khi đọc đến đoạn này. Việc này cho ta thấy rằng, tinh thần sáng tạo, không cầu nể nguyên tác là rất cần thiết cho việc dịch thơ.
Dịch thuật là nghệ thuật cân đối giữa các ngôn ngữ. Bằng công sức sáng tạo vất vả của mình, người dịch nối liền hai nền văn hóa, truyền đạt tình cảm của tác giả. Công việc dịch thơ đòi hỏi dịch giả không những phải thông thạo ngôn ngữ mà còn phải am hiểu văn hóa và lịch sử. Tốt nhất dịch giả nên thường xuyên đọc thơ và tập làm thơ. Nếu dịch giả trở thành nhà thơ thì thơ dịch chắc chắn sẽ hay hơn nhiều.
Với khuôn khổ một bài viết ngắn, không thể bàn nhiều về vấn đề dịch thuật chuyên môn. Xin kết thúc bằng lời nói của ông Phạm Viêm Phong, dịch giả Viêt Nam: “Đừng khen tôi dịch hay nếu chưa đọc nguyên tác.”


 
Dinah Roma Sianturi (Philippines)
 

CẢNH QUAN CHÂU Á: VƯỢT QUA SỰ ĐE DỌA ĐỐI VỚI 
HỆ SINH THÁI THÔNG QUA THƠ CA

Châu Á luôn tự hào về cảnh quan tươi đẹp. Từ những ngọn núi tuyết phủ và tràn đầy hoa nở của Đông Á đến những khu rừng bao la, xanh thẳm của Nam và Đông Nam Á. Xung quanh chúng ta hào phóng món quà phong cảnh xinh đẹp. Những nhà thơ, với khả năng quan sát và vốn ngôn từ dồi dào của mình, đã hưởng lợi từ món quà này qua nhiều thời đại. Cảnh quan là một phần không thể thiếu trong tập hợp các tác phẩm. Chúng tạo nên cảm hứng. Chúng là những ký ức sống động. Chúng là nơi ký thác những cảm xúc của con người.
 
Nhưng khi Châu Á phát triển như một trong những vùng đất sinh lợi trên thế giới, và với việc đầu tư kinh tế ngày càng gia tăng, rất nhiều địa điểm đã phải trải qua sự phát triển, tắc nghẽn, ô nhiễm, và những hậu quả tai hại về môi trường. Nhiều vạt rừng đã bị chặt trụi, những ngọn núi bị sạt lở, những hồ nước bị nhiễm độc và những ngôi làng bị cuốn phăng trong những cơn lũ, gây ra chết chóc và sự di dời của hàng nghìn người. Điều này tạo nên ngày càng nhiều hơn những cơ sở hạ tầng phát triển được đầu tư bởi một số ít những nhà tư bản hưởng lợi.
 
Sự tàn phá hệ sinh thái trong châu lục của chúng ta đã rung lên hồi chuông cảnh báo đối với rất nhiều người, và nhiều tổ chức chính phủ và phi chính phủ đã có những hành động nhằm chống lại sự tàn phá ấy. Những con số khoa học đang tiếp tục được đưa ra qua những nghiên cứu nhằm vào mục đích xây dựng chính sách. Nhưng đối với những người trong lĩnh vực nhân văn và nghệ thuật, nhu cầu trở lại với thế giới nội tâm của chúng ta cũng quan trọng như việc chữa lành thế giới bên ngoài đang bị mục rữa nhanh chóng.
 
Thái độ và hành động của chúng ta đối với thiên nhiên và môi trường chỉ là một sự biểu thị của những gì đang ở bên trong chúng ta. Với ngôn ngữ là một công cụ đầy sức mạnh để điều hòa ý nghĩ, chúng ta có thể tạo ra một thế giới nơi các hành động của chúng ta có thể đề ra chiến lược hành động có trách nhiệm đối với môi trường.
 
Thơ ca là một công cụ đầy sức mạnh trong sự bảo vệ hệ sinh thái. Với nguyên tắc dựa vào việc sử dụng tối ưu ngôn ngữ, thơ ca có thể kết nối con người với môi trường mà người ấy đang sống. Thơ ca không sợ hãi khi tham gia vào thế giới nội tâm của loài người. Nó có tác dụng tốt trong việc là sứ giả của những gì không liên quan đến con người, đó là một điều mà khoa học không thể sánh được. Nó đảm nhiệm trách nhiệm và trí thông minh của nhà tiên tri để đòi hỏi rằng chúng ta phải tiếp tục trân trọng thiên nhiên, không chỉ vì thiên nhiên tại cảm hứng cho việc sáng tạo của chúng ta, mà vì chúng ta là một phần của thiên nhiên rộng lớn. Và cứ như thế, thơ ca thực sự giúp ích cho việc bảo vệ hệ sinh thái.
 
Những nhà thơ đang phải đối mặt với một quang cảnh Châu Á dễ tổn thương hơn bao giờ hết. Nỗi lo về sự biến mất của những tượng đài liên quan đến lịch sử, văn hóa, sự đoàn kết và sự sống chính là sự mất mát to lớn đối với loài người. Bây giờ là thời điểm chúng ta sử dụng quyền năng của món quà thơ ca để lên tiếng về nơi chúng ta đang sống, lên tiếng về những gì mà chúng ta có thể làm tốt nhất với trí tưởng tượng của mình để cứu thiên nhiên và cứu chính chúng ta khỏi sự tàn phá. Đây chính là một cộng đồng mà chúng ta phải cam kết bảo vệ.

 

Mamta G. Sagar

 
 Đức tin, Bản sắc văn hóa và Hòa bình

 
Không khí trước mặt tỏa khói từ hơi thở ấm của chúng tôi, xuyên qua xương mù, và chúng tôi – những cô gái nhỏ đã bước đi, tán gẫu, cười khúc khích. Những buổi sáng sớm ngày xưa thường rất lạnh. Vào những buổi sáng Chủ nhật, chúng tôi đã đi bộ xuyên qua con đường nhỏ dẫn đến thánh đường Ganapati[1]. Cạnh thánh đường là một cái hồ có tên gọi là Ganapati Kere. Hoa súng hồng và trắng nở trên hồ, những chiếc lá to long lanh sương vây quanh. Chúng tôi đã nghe kể rằng những loại đá quý như đá ru-bi và kim cương và cả loại đá Rama Tinki Varahas[2] từ thời Shivappanayaka[3] có thể tìm thấy ở đáy hồ. Chính quyền địa phương đã khôi phục lại di sản  hoàng gia tại đây bằng cách không dọn dẹp hồ nước. Ganapati Kere chính là địa điểm trí tưởng tượng của tôi, nơi tôi sáng tạo ra những câu chuyện về Sarpaloka, vương quốc của loài rắn với con rắn chúa naaga kannikes và câu chuyện về một chiếc cột bằng kính đã trôi vào hồ cung điện, với một nàng công chúa xinh đẹp ẩn mình trong đó.
 
Một bên của chiếc hồ là cây cầu nối liền thị xã Sagara với vùng Agrahara. Cây cầu này được tô điểm bằng sự hiện diện của thánh đường Anjaneya Swamy[4] ở phía bên kia. Ngoài ra, bên trái chiếc hồ còn có đền thờ Hindu mang tên Raghavendra Swamy[5], bên phải là một thánh đường Hồi giáo và thánh đường Hindu Ganapati. Phía khác là con đường B.H., nơi có thể nhìn thấy xe cộ túa vào khu vực Sagara từ Shimoga and Udupi[6]. Khi những chiếc xe buýt vội vã vào thị xã, những hành khách ném những đồng xu xuống hồ Ganapati Kere và cầu mong may mắn. Sagara là một thị xã nhỏ nhưng giàu có, đã dần trở thành giàu có hơn. Tôi đã lớn lên ở đây. Như tất cả những đứa trẻ khác, cả tuần tôi đợi đến ngày Chủ nhật.
 
Vào những buổi sáng Chủ nhật, chúng tôi đã đi bộ đến tận chiếc hồ có thánh đường. Nơi đó, cạnh thánh đường Hindu Ganapati là một thánh đường Hồi giáo. Tôi vẫn nhớ là làn gió mát ngập tràn không gian trắng sạch sẽ của thánh đường Hồi giáo này. Khi bầu trời chuyển sang màu cam, hai tay chúng tôi vốc đầy làn nước vàng óng từ chiếc hồ nhỏ trong thánh đường Hồi giáo, rồi úp mặt vào đó để tận hưởng cảm giác mát lạnh. Ở trong thánh đường Hồi giáo này, chúng tôi ngồi trên những bậc thang dẫn xuống nước và nhìn mặt trời đỏ chuyển thành màu cam, màu vàng rồi màu trắng. Những chú chim bay qua hồ và ngọn gió trong lành, mát mẻ tràn qua chúng tôi. Đây là những giây phút tuổi thơ quý giá nhất của tôi. Từ nơi này, chúng tôi đi về phía thánh đường Hindu Ganapati nằm ngay bên cạnh, nơi mà những tiếng chuông cầu nguyện đang vang. Ở Sagara, thánh đường Hindu Ganapati và thánh đường Hồi giáo có chung một bức tường. Nơi đây mùi long não, mùi bơ sữa, và mùi hương quyện vào nhau. Chúng tôi đi vòng quanh Praakaara[7], chơi trò đuổi bắt vòng quanh Garudagamba[8], ăn prasada (đồ cúng được chia cho mọi người), rồi trèo lên những vật chắn để với tới những chiếc chuông đồng to, những chiếc chuông chúng tôi rung lên trong  lúc cử hành lễ..... Khi nghĩ đến địa điểm nhỏ bé này, ký ức tràn đầy tâm trí tôi. Ký ức về thời ấu thơ của hàng trăm và hàng ngàn người như tôi chắc đang còn vương vấn những góc tối của nơi linh thiêng nhất ở thánh đường này. Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn nghe thấy tiếng tim đập nhẹ, cầu khẩn Thần linh ban cho kết quả thi thật tốt.
 
Khi còn bé, chúng tôi thường khoe với người thân rằng “chúng tôi thuộc về một nơi mà ở đó thánh đường của người Hindu và thánh đường của người đạo Hồi có chung một cánh cửa!”. Sự thật là người Hindu và người Hồi giáo đều khóa cánh cửa này từ phía bên trong thánh đường của họ. Điều này chẳng có nghĩa gì với chúng tôi. Chính vì bức tường có một cánh cửa có nghĩa cánh cửa đó phải được mở và không được đóng. Khi là những đứa trẻ, có lẽ chúng tôi đã hiểu điều này một cách không có ý thức. Bất cứ khi nào chơi trò trốn tìm trong thánh đường, ai đến lượt đi tìm cũng phải đếm những con số tại cánh cửa gỗ này. Đây là cánh cửa chung trên bức tường chung của thánh đường Hindu và thánh đường Hồi giáo. Cánh cửa này đã cũ, có những vết nứt và lỗ thủng. Khi chúng tôi đếm những con số, chúng tôi nhìn thấy nước hồ và người đi lễ ở thánh đường Hồi giáo. Những con số chúng tôi đếm vang qua những vết nứt của cánh cửa và vang trên nền của thánh đường Hồi giáo. Trong khi đó, làn gió nhẹ từ thánh đường Hồi giáo đem tiếng gọi nguyện cầu azaan vào thánh đường Hindu. Ánh sáng bừng lên rồi lại tắt qua những khe nứt và chiếc lỗ trên cánh cửa khi bình minh và hoàng hôn đến. Trong chiếc hồ của thánh đường Hồi giáo, nước hồ Ganapati Kere của thánh đường Hindu trở thành biểu tượng của sự thanh khiết.
 
Sau đó tôi lên cấp ba. Tại một trong những cuộc gặp mặt họp tín ngưỡng có sự hiện diện của cha mẹ tôi, một trong những đạo sư, trước khi ban phước cho tôi bằng hoa và akshate (những hạt gạo sống nhuộm nhiều màu) hỏi rằng tôi đã dậy thì chưa. Nếu tôi đã dậy thì, tôi phải đứng ở đằng xa nơi những người phụ nữ lớn tuổi đang đứng. Những đứa con gái chúng tôi không được vào thánh đường trong thời gian kinh nguyệt. Chúng tôi không được đến gần bất cứ thứ gì được xem là linh thiêng. Cho đến ngày nay, tôi thường tự hỏi điều này có sự liên quan gì đến đức tin một người vào thánh thần. Nếu một người có đức tin, niềm tin của cô ấy có thay đổi trong thời gian cô ấy có kinh nguyệt không? Thánh thần với chúng tôi lúc đó luôn đồng nghĩa với sự sợ hãi và trừng phạt. Cơ thể chúng tôi trở thành nơi hội tụ tội lỗi và sự bẩn thỉu. Chúng ta đều biết cách mà tôn giáo, thánh thần và đức tin hoạt động theo tục lệ và kiểm soát và/hoặc bóc lột phụ nữ và cơ thể của họ. Khi tôi lớn lên, tôi nghĩ rằng có lẽ tôi đã không tin vào thánh thần. Khi là một đứa trẻ, tôi luôn sợ “ÔNG ẤY”. Những đứa con gái chúng tôi đã không đi bộ cùng nhau vào sáng Chủ nhật nữa mà bắt đầu đi bộ vào buổi tối. Chúng tôi rất hiếm khi vào thánh đường Hindu hoặc thánh đường Hồi giáo nữa, nhưng chúng tôi đi bộ rất lâu trên cây cầu Ganapati Kere. Chiếc hồ trông rất đẹp vào buổi tối. Ánh sáng từ thánh đường Hindu và thánh đường Hồi giáo, từ những con đường và xe cộ lấp lánh phản chiếu trên mặt nước.
 
Thị xã Sagara cũng chứng kiến sự đụng độ nho nhỏ của các nhóm tôn giáo đối lập trong lễ Muharram[9] và Ganesha[10]. Trong thời gian cử hành lễ dìm nước cho thánh Ganesha Chaturthi vào tháng 9 năm 2003, cuộc bạo lực giữa các nhóm tôn giáo đối lập bùng phát dữ dội và cướp đi sinh mạng của nhiều người, tàn phá tài sản trong một số thánh đường Hindu và Hồi giáo trong khu vực Sagara. Và cuộc bạo lực này xuất phát ngay trước thánh đường Hindu có chung bức tường với thánh đường Hồi giáo.
 
Đức tin, nếu được hiểu trong ngữ cảnh bạo lực tôn giáo, nổi lên như một thành phần quan trọng của luận pháp tôn giáo liên quan đến đức tin vào một tôn giáo và sự không tin vào tôn giáo khác. Nó đặt một tôn giáo ở vị trí chống lại tôn giáo khác, và một con người chống lại con người khác, và sự áp đặt mạnh mẽ lên cơ thể và sự tồn tại của người phụ nữ. Đôi khi đức tin không khác biệt lắm, cả khi nó đứng ngoài ngữ cảnh bạo lực tôn giáo, vì môi trường tục lệ của tôn giáo cũng có thể đem đến bạo lực.
 
Gần một thập kỷ sau, tôi thực hiện nhiều chuyến đi giữa vùng Bangalore và Hyderabad, giữa tiếng cầu nguyện và tiếng gọi cầu nguyện từ ngày càng nhiều những thánh đường Hindu và thánh đường Hồi giáo, giữa sự bảo thủ mang tính hiện đại của những tôn giáo trong việc kiểm soát phụ nữ, già hay trẻ và thuộc mọi tôn giáo. Khi nhìn lại, tôi nhận ra rằng chúng tôi đã quá bận rộn trong việc xây những bức tường chung mà quên đi việc xây những cánh cửa chung trên những bức tường đó. Nhưng tâm trí chúng ta chính là những cánh cửa. Chúng là những cánh cửa không có những bức tường. Nếu có thể đóng cửa, chúng ta không nên quên rằng chúng ta cũng có thể mở cửa.
 
Vì thế, với tôi ‘đức tin’ là một tập hợp những ký ức, sự ẩn dụ, và những hình ảnh đã nuôi dưỡng cuộc sống chúng ta, thay đổi những định nghĩa, thay đổi đời sống của chúng ta, và ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách con người của chúng ta.
 
Chiếc hồ Ganapati Kere, nhân chứng cho những gì đã xảy ra ở Sagara vẫn đứng soi bóng thánh đường Hindu và thánh đường Hồi giáo. Những đóa hoa súng màu hồng và trắng vẫn nở; vào mỗi bình minh, nước hồ của thánh đường Hồi giáo chuyển thành màu vàng và vàng sẫm. Cho tới ngày nay, những cô gái không được phép vào thánh đường Hindu mỗi khi họ hành kinh. Họ vẫn thường đi bộ rất lâu trên cây cầu bắc qua hồ. Bức tường chung vẫn có một cánh cửa nối thánh đường của người Hindu và thánh đường của người Hồi giáo. 
 
Ghi chú của tác giả: Ở Ấn độ - một quốc gia có nền văn hóa đa chủng tộc và đa ngôn ngữ, tính đa dạng luôn tồn tại một cách hòa bình và hài hòa. Sự kiện nào làm ảnh hưởng đến điều đó cũng gặp phải sự phản đối bằng nhiều hình thức khác nhau. Tôi viết bài viết mang tính chất tự truyện này để phản đối cuộc đối đầu tôn giáo đã diễn ra ở Sagara vào thời gian trước.
 

[1] Thần voi, con trai của thần Shiva và nữ thần Parvathi.
[2] Những đồng tiền vàng với dấu niêm phong của thần Rama trên đó.
[3] Shivappanayaka (1645-60 trước công nguyên), vua Keladi, người cai trị Sagara.
[4] Thần khỉ.
[5] Một vị thánh từ cuối thế kỷ thứ 15 được công chúng mến mộ. Nơi thờ phụng một vị thánh được gọi là đền thờ (MATHA), không phải là thánh đường.
[6] Sagara, Shimoga và Udupi là những thị xã quan trọng thuộc bang Karnataka, một trong những tiểu bang nằm phía Nam của Ấn độ.
[7] Không gian mở để những người sùng đạo đi quanh thánh đường chính.
[8] Cột đá trước thánh đường.
[9] Lễ hội để tưởng nhớ sự tử vì đạo của Hazrat Imam Hussein – cháu của nhà truyền giáo Mohammed, được tổ chức trọng thể bởi những người Hồi giáo đặc biệt là người Hồi giáo thuộc cộng đồng Shia.
[10] Một lễ hội được yêu thích của người Hindu miền nam Ấn độ nơi tượng của thần voi làm bằng đất sét được thờ phụng. Đỉnh điểm của lễ hội là việc nhấn chìm tượng thần dưới nước. 


 
TRẦN NHUẬN MINH (Viet Nam)
 

THƠ CA GÓP PHẦN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
 
 
Thật là có ý nghĩa, khi  mùa xuân này, chúng ta gặp nhau tại đây, bên bờ Vịnh Hạ Long, một kì quan thiên nhiên thế giới, hai lần được UNESCO công nhân là Di sản thế giới về cảnh quan thẫm mĩ và về địa chất địa mạo. Điều đó, tất cả chúng ta đều biết. Nhưng tôi nghĩ, có lẽ không phải ai cũng biết, Vịnh Hạ Long còn một là một kho tàng thi ca đã có khoảng 750 năm tuổi, bắt đầu từ một đêm trăng thanh, vị vua anh hùng, sau khi mất, được quần thần phong THÁNH, là Trần Thánh Tông ( 1240 – 1290), đã ngủ trên thuyền và cảnh đẹp kì diệu của Vịnh Hạ Long đã đi vào một bài thơ tứ tuyệt bất hủ của ông: Triêu du phù vân kiệu / Mộ túc minh nguyệt loan / Hốt nhiên đắc giai thú / Vạn tượng sinh hào đoan (  Sớm chơi núi mây nổi / Tối ngủ bến trăng thanh / Bỗng nhiên được thú lạ / Ngọn bút nảy muôn hình  - Phan Võ dịch). Từ đó, các nhà thơ nổi tiếng trong nước và nhiều nhà thơ lớn khác, đến từ các châu lục, trong đó có cả các thi hào, với ngôn ngữ khác nhau, bằng cái tài và cái tâm của mình, đã  sáng tạo nhỉều thi phẩm xuất sắc, lắng nghe được tiếng nói huyền vi của vũ trụ, từ lúc những giọt nước và những thớ đá đầu tiên được sinh thành, để hoà hợp con người và thiên nhiên, không chỉ làm vẻ vang cho vùng đất này mà còn làm giầu thêm những giá trị tinh thần cho một quốc gia và cho cả nhân loại. Vì vậy, tôi tin là các bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết núi Bài Thơ, xưa tên là núi Truyền Đăng, nay ở mép nước Vịnh Hạ Long, người lính biên phòng nhiều triều đại đứng gác trên ngọn núi này, đã đốt lửa hiệu báo về kinh thành Thăng Long, mỗi khi vùng biển vùng trời Đông Bắc có bóng giặc xâm lược. Tháng 3 năm 1468, vị hoàng đế anh minh nhất của nhà Lê là Lê Thánh Tông, sau khi duyệt võ trên sông Bạch Đằng, đã buộc thuyền trong bóng núi và cho khắc lên vách đá bài thơ tràn đầy khát vọng về sự cường thịnh của đất nước Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại ( Trời Nam muôn thuở non sông vững)… Sau đó, chúa Trịnh Cương, văn võ toàn tài, đã có thơ hoạ khắc vào vách núi, và nhiều thi nhân đời sau làm theo, biến quả núi này thành một quả núi thơ, một kì đài thơ hùng vĩ và xanh thẳm giữa trời biển mênh mang của Di sản thế giới. Thơ Trịnh Cương có câu : Tái tuân nhất dự phu đài duyệt / Quần hổ cam ca hải yến niên ( Cuộc chơi ai cũng vui cười / Các quan ca tụng biển trời lặng trong)… Và như thế, chủ đề hoà bình, ổn định, hữu nghị và phát triển giữa các cộng đồng dân tộc Châu Á – Thái Bình Dương mà chúng ta tâm niệm ngày hôm nay, trong Liên hoan thơ này, các thi nhân Việt Nam đã chạm tới từ 700 năm trước. Chúng ta đã kế tục một cách xứng đáng và biến những tâm nguyện ấy thành hiện thực với sự có mặt của hàng trăm nhà thơ của châu lục với niềm tin yêu mới vào thời đại chúng ta đang sống. Vâng, tôi nói các nhà thơ, và không chỉ các nhà thơ, mà còn cả các nghệ sĩ và nhân dân đã hát vang thơ ở vùng trời biển Di sản thế giới này, là nói theo nghĩa đen. Bởi từ tháng 3 năm 1988, nhân 520 năm, ngày bài thơ dựng nước của vua Lê Thánh Tông khắc trên vách núi Truyền Đăng, mà tôi đã nói ở trên, các nhà lãnh đạo của vùng đất này đã cho phép tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh hằng năm vào ngày 29 tháng 3, với sự tham gia, cùng với đông đảo công chúng,  của nhiều nhà thơ, đến  từ thủ đô Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước. Đó là ngày Lễ hội thơ ca đầu tiên ở một tỉnh, với ý nghĩa xã hội toàn vẹn và nội dung hoạt động phong phú của nó, để 15 năm sau, Hội Nhà văn Việt Nam kế thừa và phát triển, đã “ nhân rộng ra cả nước thành Ngày thơ Việt Nam”, như nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã từng nói. Năm nay, Quảng Ninh đăng cai tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10 và sau đó tổ chức Ngày thơ Quảng Ninh lần thứ 25 vào ngày 29 tháng 3, trong tinh thần đó, làm cho thơ ca thành một vùng ảnh hưởng lành mạnh và cao cả vào đời sống tinh thần của nhân dân trong dịp mùa xuân về. Vùng đất rất giầu truyền thống văn hoá này đã tôn vinh thơ và đến lượt mình, các nhà thơ đã làm vẻ vang thêm cho nó. Tôi cầm bút ở đây đã tròn 50 năm và nhận ra sâu sắc rằng, thơ không chỉ ca ngợi đất nước mà cao cả hơn, còn thăng hoa và bảo vệ mọi giá trị của con người, trước những biến động của thời cuộc.
 
Hàng trăm năm nay, người ta bàn về thơ đã nhiều, có nhiều tập sách đã thành kinh điển, trong đó có những đúc kết của những tài năng rất lớn, trí tuệ rất cao sâu của cả nhân loại mà phải vài thế kỉ mới có một người… Cứ tưởng đến thế là xong, ai ngờ không phải. Tất cả mới bắt đầu. Và người ta lại phải bàn tiếp. Thơ vẫn là một cái gì bí ẩn, thăm thẳm xanh trước mặt như biển cả, tầng tầng lớp lớp mênh mông như rừng đại ngàn. Không có chỗ tận cùng. Và đấy cũng là một trong những lí do để chúng ta có mặt ở đây. Không ít trường hợp, những bài thơ hay nhất thường được ra đời theo linh tính chứ không phải theo lí luận và chỉ khi mình “vô ngã” thì nó mới thanh thoát, tự nhiên.  Cũng như tiếng rền của núi sông, nếp vằn của hổ báo, nào biết ánh sáng bay trên đầu nó là ánh sáng nào.  Có nhà thơ vốn liếng trong trường ốc chả được bao nhiêu, nhưng bằng sự thẩm thấu tự nhiên các tầng văn hoá của dân tộc và của nhân loại, tác phẩm cuả họ vẫn là sự bừng sáng và hào hoa, về tài năng trí tuệ của nhiều thế hệ mà họ bỗng nhiên thành người đại diện. Đôi khi họ đi trong cái mù mờ đầy cảm hứng của tâm hồn, của chính họ, có thể do trời ngẫu nhiên mà ban tặng cho họ, với những bước chân xiêu vẹo, nhưng đã vẽ lên những giá trị thẫm mĩ huy hoàng, mà trước đó chưa từng có, làm giầu sang không biết đến bao nhiêu phẩm giá văn hóa cho một thời đại mà họ đã sống. Vì vậy, càng học thơ, làm thơ, càng thấy thơ có một cái gì đó rất khó nắm bắt, rất khó chinh phục. Hình như thơ phát triển được, để mỗi người mỗi khác, ngay trong một người cũng mỗi giai đoạn mỗi khác, mỗi quốc gia mỗi khác, và mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia lại khác nữa, là nhờ ở điểm “ đặc thù ” này. Vì thế mà những đỉnh cao mới, mới có cơ hội xuất hiện và những lí luận về thơ mới căn cứ vào đó mà luôn luôn được bổ sung… Cũng vì thế, thơ mới cần đến mọi cố gắng của mỗi chúng ta, chờ đợi mọi sáng tạo tiếp theo của mỗi chúng ta. Vẫn luôn luôn giành chỗ cho mỗi chúng ta hiện diện như những chủ nhân mới đầy uy lực.
 
Bất cứ cái gì ra đời, đều có cái lí do chính đáng của nó. Những tìm tòi không
ngừng của các nhà thơ hiện đại hay hậu hiện đại, cùng nhiều xu hướng nghệ thuật khác nhau, là nhằm khai thác và thăng hoa cái phần còn lại, vẫn tiềm ẩn và thao thức trong sáng tạo những giá trị tinh thần mới mẻ của con người. Và đi theo cái này, ủng hộ cái này, không bao giờ nên bài xích hoặc ruồng bỏ cái kia, như tôn giáo và màu da, chúng cần phải được cùng tồn tại, tôn trọng và bình đẳng trong mọi giá trị. Tôi nghĩ thế và không hề lạnh nhạt hay thành kiến với các sáng tác theo các khuynh hướng nghệ thuật khác tôi, thậm chí trái ngược với tôi. Bởi thơ là của muôn nhà, đến từ muôn nẻo đường khác nhau, không chỉ của hiện thực cuộc sống mà còn của cả cõi tâm linh xa xăm… Thơ, cũng vì thế, đến từ nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau, với nhiều ngôn ngữ, phong tục tập quán, thẫm mĩ và xu hướng nghệ thuật khác nhau, cùng làm giầu sang thêm cho đời sống, góp phần nâng cao chất lượng sống của con người. Dù đến từ bất cứ ngọn nguồn sáng tạo nào, thơ vẫn phải đạt được hai yêu cầu. Một, phải làm cho con người sống với con người tốt hơn, dù con người đó ở bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào và như thế, cái thước để đo nó vẫn là giá trị nhân văn. Hai, làm giầu thêm cho văn hoá, chứ không chống lại văn hoá. Tràn đầy trong thơ vẫn phải là khát vọng hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia. Tôi có câu thơ: Ta mong mọi quốc gia bước lên những đỉnh cao mới / Bằng những bậc thang không có máu người, là trong tinh thần ấy. Và như thế, vẻ đẹp thi ca của mỗi nhà thơ chúng ta, không chỉ hiện ra qua các hình tượng nghệ thuật và nhịp điệu, mà trước hết ở tư tưởng, với sự điềm đạm, hồn nhiên, thậm chí hiền minh, thấm thía, qua từng câu thơ hoặc qua toàn bộ tác phẩm.
 
Thành tựu đã đạt được của thơ ca mỗi nước, qua hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, tạo thành những đặc trưng của thơ ca phương Đông, đã và đang được tìm hiểu, khám phá, như những giá trị bất tử của loài người. Đó là cơ sở để mọi cách tân của chúng ta, nối liền được quá khứ với tương lai, trong sự phát triển tất yếu của nó, thể hiện sinh động và phong phú số phận và khát vọng của nhân dân, trong một xã hội còn không ít bấc trắc, ngày càng đòi hỏi được dân chủ và văn minh hơn. Tôi nghĩ đó là tiếng nói chung của mỗi chúng ta ngày hôm nay. Phấn đấu cho những ý tưởng nhân văn cao cả đó, chúng ta có quyền hi vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, và  tác phẩm của chúng ta, cũng vì thế, mà hi vọng sẽ có mặt ở tương lai, vì phẩm giá của con người, như một bằng chứng về một thời đại mà chúng ta đã sống.


Ảnh: Phong Lan


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: nhà thơ

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tạp chí đã xuất bản

Tạp chí Nhà văn số 3-2012
Tạp chí nhà văn số tết 2012
Tạp chí nhà văn số tháng 12 năm 2011
Tạp chí nhà văn số tháng 10 năm 2011

Quảng cáo

Tổng công ty giấy Việt Nam

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 38

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 36


Hôm nayHôm nay : 1058

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 95978

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1151836

Tạp chí Nhà văn

Tạp chí Nhà văn Tạp chí của Hội nhà văn Việt Nam

Tiêu điểm