02:15 Chủ nhật, 20/05/2012

Trang nhất » Tin Tức » Tin tức - Sự kiện

Hội thảo thơ vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, hữu nghị và phát triển (phiên họp cuối)

Thứ sáu - 03/02/2012 21:03
Đại biểu các nước cùng ký vào lá cờ chung như một thông điệp: Hãy chung tay xây dựng thế giới hòa bình, lấy thơ ca thay thế vũ khí hủy diệt, nối kết tinh thần hòa hiệp quốc tế trong mái nhà chung mang tên Trái Đất.

Đại biểu các nước cùng ký vào lá cờ chung như một thông điệp: Hãy chung tay xây dựng thế giới hòa bình, lấy thơ ca thay thế vũ khí hủy diệt, nối kết tinh thần hòa hiệp quốc tế trong mái nhà chung mang tên Trái Đất.

TCNV- Hôm nay, ngày 03 tháng 02 năm 2012, Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương diễn ra phiêp họp cuối cùng với chủ đề Thơ vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, hữu nghị và phát triển với các báo cáo của các đại diện tiêu biểu Sukrita Kuman (Ấn Độ), nhà thơ Nikolai Vladimirovich (Nga), nhà thơ – dịch giả Aazan Abidov (Uzbekistan), nhà thơ Soukhee Norasilp (Laos), nhà thơ Sivana (Campodia), nhà thơ Tsukagoshi (Japan), nhà thơ Sue Wootton (New Zealand), nhà thơ Rida K Liamsi (Indonesia), nhà thơ Bằng Việt (Viet Nam), nhà thơ- nhà giáo Mary Croy (USA), nhà thơ Pornpen Hantrakool (Thailand), nhà thơ Mai Văn Phấn (Viet Nam), nhà thơ Marjorie Evasco (Philippines). Phóng viên tạp chí nhà văn xin giới thiệu 5 tham luận nổi bật của đại biểu Sukrita Kuman (Ấn Độ), nhà thơ Tsukagoshi (Japan), nhà thơ- nhà giáo Mary Croy (USA), nhà thơ Pornpen Hantrakool (Thailand) và nhà thơ Mai Văn Phấn (Viet Nam).

 
Toàn cảnh hội thảo
 
Sukrita Paul Kumar (Indian)

 

 
 
Ti sao Châu Á? Ti sao Thơ ca?

 
Người ta thường cho rằng thơ ca là sự diễn tả rất riêng tư đồng thời thuyết phục về những trải nghiệm trong trí tưởng tượng và cả có thật của nhà thơ. Điều nực cười là chính “trải nghiệm cá nhân” này thực ra lại bắt nguồn từ hoàn cảnh văn hóa-xã hội của tác giả. Sau khi được sàng lọc qua cảm nhận cá nhân của nhà thơ, sự thể hiện sáng tạo thực ra mượn một vỏ bọc “khách quan” để qua đó nhà thơ kết nối với những “người khác”. Qua việc đọc thơ của nhau, ta sẽ hiểu sâu sắc hơn về tính cách con người của một nhà thơ. Quan trọng hơn cả, chúng ta còn hiểu được văn hóa, cộng đồng, nền chính trị, và cả hoàn cảnh địa lý nơi nhà thơ đang sinh sống. Trong thời thuộc địa và trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân mới, chúng ta biết rằng văn học phương Tây đã chi phối cả giới trí thức lẫn độc giả bình thường, vì sự dễ dàng tiếp cận của nó ở những quốc gia chúng ta đang sống.
 
Trên thực tế, những cửa hàng sách và thậm chí những thư viện nhan nhản sách phương Tây và những người bán sách sẵn sàng đề nghị mua giúp chúng ta thêm những tác phẩm này nếu có nhu cầu. Trong khi đó, đối với văn chương của các nước châu Á, mặc dù chúng ta ra sức tìm kiếm, chẳng có người đại lý hoặc nhà phân phối nào có thể giúp chúng ta mua sách cả. Có lẽ vì chúng ta quá gần nhau, cho nên chúng ta không tiếp cận được với nhau!? Có lẽ chính trị thế giới đang chiếm lĩnh ngành kinh doanh sách? Có phải sự bốc đồng bất cần của các phương tiện truyền thông gây ra cơn sốt với văn học phương Tây và sự lạnh nhạt đối với kho tàng văn học phương Đông? Hay lý do là vì sức hút không thể cưỡng lại được của nền văn minh Tây Âu, sự lộng lẫy của ngôn từ và văn học từ một nơi được mệnh danh là “thế giới thứ nhất” đang thôi miên con mắt của mỗi chúng ta? Tại sao chúng ta không ủng hộ văn chương của các nước láng giềng, những quốc gia liền kề cũng như cách xa chúng ta, trong phạm vi châu Á này? Việc chúng ta thiếu tiếp xúc với những nền văn học Á Châu thực sự đã dẫn đến một chuỗi những sự sỉ nhục văn hóa trong chính châu lục này. Cần phải có những nỗ lực vượt bậc để nối liền khoảng cách, giúp chúng ta thấu hiểu nhau hơn. … Để đạt được mục tiêu đó, cần thiết lập những nền móng cho sự giao lưu văn xuôi và thi ca.
 
Người ta thường than vãn rằng bản dịch tiếng Anh của các tác phẩm văn học châu Á không được tiếp nhận ở hầu hết các nước châu Á. Điều này cũng hạn chế khả năng tiếp cận của văn học của Á châu. Ở Ấn độ, thư viện các trường đại học không có nhiều tác phẩm văn học châu Á vì chương trình học tại các trường đại học và cao đẳng thường không bao gồm chủ đề văn học của các nước này.
 
Bằng cách hòa chung giọng nói, chúng ta không có ý định xây dựng một sự thay thế cho khái niệm “Đông phương học”, mà giáo sư, nhà nghiên cứu Edward Said đã từng phê phán một cách đúng đắn.  Tuy nhiên, nền tảng của những hoạt động này tạo cơ hội để chúng ta hiểu nhau hơn thông qua thơ ca, qua đó nâng cao khả năng nhận biết phạm vi của sự đồng cảm trong tri giác của những nhà văn châu Á. Những vùng rộng lớn của châu Á có chung những truyền thuyết và những câu chuyện thần thoại, những sử thi và tôn giáo, và phong tục kể chuyện cũng khá tương đồng. Sự gần gũi về địa lý, sự chuyển biến của lịch sử và văn hóa, đồng thời sự tương tác của những điều kiện xã hội-chính trị đã góp phần tạo ra những khuynh hướng triết học và tính cách tương đồng trong các dân tộc thuộc các quốc gia khác nhau trong vùng lãnh thổ châu Á. Trong khi đó, xu hướng hiện đại hóa và cách tiếp cận thực dụng đối với ý tưởng của sự tiến bộ và phát triển đã khiến  phương Tây đi trên một con đường hoàn toàn khác.
 
Vậy, có một tổng thể hợp nhất của các dân tộc thuộc các quốc gia châu Á hay không? Chúng ta có thể dễ dàng trả lời câu hỏi này bằng cách thẩm thấu, và sẻ chia những nền văn học của các nước châu Á khác nhau. Bước đầu tiên của công việc này là tìm hiểu lẫn nhau bằng cách đọc các tác phẩm văn xuôi và thơ – ngôn ngữ của trái tim và khối óc! Sự khác biệt văn hóa, tín ngưỡng, đức tin, hành vi và cách biểu đạt sẽ hiện lên rõ nét, tuy nhiên những cây cầu của sự cảm thông sẽ được xây lên bằng sự đồng cảm và và việc nhận ra chúng ta có chung những vấn đề và những mối quan tâm. 
 
Không thể phủ nhận sự khác biệt khổng lồ của những trải nghiệm, hoàn cảnh, và cách suy nghĩ trong các tác phẩm văn học châu Á. Như chúng ta biết, sự đại diện văn học xuất hiện từ trải nghiệm cụ thể và có nguồn gốc, và vươn ra để liên hệ với “những người khác” bằng cách vượt ra khỏi vương quốc của những câu hỏi cơ bản liên quan đến sự tồn tại của loài người. Chúng ta phải nhận thức rằng, trừ khi chúng ta hiểu được những điều cụ thể, chúng ta không thể nhận ra cốt lõi của những “câu hỏi lớn hơn” về sự tồn tại. Ví dụ, sự đau đớn của người Sri Lanka và người Ấn độ hoặc bất cứ một nhân vật chính nào trong một bài thơ sẽ đương nhiên bắt nguồn từ một hoàn cảnh chính trị-xã hội cụ thể tại một thời điểm cụ thể nào đó. Và nếu bạn đọc không hiểu về hoàn cảnh đó, họ sẽ không nhận diện đầy đủ được sự đau đớn trong bài thơ. Thêm vào đó, cách một nhân vật đối phó với mối nguy hiểm đến tính mạng còn bị ảnh hưởng rất nhiều bởi hoàn cảnh xã hội và văn hóa nơi người ấy đã được nuôi dưỡng. 
 
Nhà văn Geyang, trong truyện ngắn "Bà xơ già kể chuyện" đã viết: "Chúng ta kể câu chuyện về cuộc sống của chúng ta cho những người khác, để rồi những đau khổ chúng ta đã trải qua trở thành một điều tốt đẹp". Chia sẻ và tìm ra tiếng nói kết nối cuộc sống của chúng ta là cách tăng thêm sức mạnh và sự gắn kết. Nhà văn có khả năng nối liền quá khứ với hiện tại và tạo mối liên hệ với những con người ở thời đại anh ta đang sống.
 
Dòng chảy của văn hóa, truyền thuyết và những ký hiệu dễ dàng vượt qua biên giới quốc gia và chính trị; biên giới địa lý trở thành đường viền của những cái bóng để những câu chuyện và những bài hát đi qua. Điều này không có nghĩa là chúng ta chối bỏ sự khác biệt trong mỗi nền văn hóa mà chúng ta phải giúp bạn đọc phân biệt rõ sự tương đồng và khác nhau của sự đồng đẳng bên trong và giữa mỗi một nền văn hóa. 
 
Cơ hội được liên kết và lắng nghe thơ của nhau có lẽ là một trong những cách tốt nhất để xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa chúng ta trên con đường phát triển văn minh và vững chắc.
 


Yuka Tsukagoshi (Japan)
 
 
Vượt biên gii bng thơ ca
 
 
Sau trận động đất tồi tệ nhất trong lịch sử tàn phá một vùng rộng lớn ở phía đông bắc Nhật Bản ngày 11/03/2011, tất cả những người Nhật đều bị suy sụp vì buồn đau và những mất mát không nói nên lời. Trận động đất khủng khiếp và thảm họa sóng thần vượt qua khỏi trí tưởng tượng của chúng tôi. Các thế lực thiên nhiên vốn mang lại cho chúng tôi cảm hứng đã thay đổi mọi thứ một cách thô bạo.
Tuy nhiên, tôi rất sung sướng được thấy nhiều nhà thơ, đặc biệt là ở nước ngoài, đã thể hiện nỗi buồn và sự thông cảm, đưa những cảm xúc này vào thơ và chia sẻ với những nạn nhân, thông qua những bài báo in hay điện tử, các trang web và thậm chí cả mạng Twitter. Tiếng nói trong thơ ca của họ đã khích lệ các nạn nhân và tôi nhận ra một cách sâu sắc rằng thơ ca, với ngôn ngữ sinh động đã làm giàu cảm xúc và ý nghĩa của “hiện tại”, mang lại sức mạnh để kết nối ngay lập tức với trái tim những ngời khác.
Điều này giúp chúng ta tái khẳng định một thực tế đơn giản nhưng quan trọng là chúng ta có thể chia sẻ cảm xúc qua thơ ca ngay cả khi chúng ta có ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử khác nhau. Qua thơ ca, chúng ta không chỉ học về văn hóa, mỹ học, địa lý và truyền thống mà ta còn có thể hiểu được một lát cắt trong cuộc sống và tư duy của một cá nhân nào đó. Qua lát cắt cuộc sống này, chúng ta có thể tìm thấy điểm chung giữa những nền văn hóa thế giới.
 
Vô số các thể loại thơ ca đã ra đời khắp châu Á nhiều thế kỷ qua. Ở Nhật Bản, chúng tôi cũng có phong cách thơ truyền thống, haiku và tanka, ngoài ra còn có thể loại thơ tự do. Ở Nhật, tiểu thuyết dường như được chuộng hơn thơ ca nhưng những hình thức thơ này vẫn được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi. Trên thực tế, hiện rất nhiều người nước khác thích haiku và tanka và đã viết thể thơ này bằng chính ngôn ngữ của họ. Tôi viết thơ chủ yếu theo lối tự do và đó là cách thể hiện tốt nhất với tôi. Tuy nhiên, tôi đã dịch thơ haiku tiếng Nhật và Anh và luôn yêu thích những hình ảnh sống động và những cảm xúc vô hình và hữu hình mà tôi cảm nhận được từ haiku và tanka. Những phong cách thơ này sẽ tồn tại mãi mãi và hòa hợp với những xã hội hiện đại, luôn chứng tỏ những hình ảnh mới, sống động và một lát cắt của “hiện tại”.
 
Là một nhà thơ và dịch giả, tôi đã chứng kiến những khoảnh khắc thơ ca đi qua biên giới hữu hình và vô hình giữa những dân tộc, những nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Cho dù khoảnh khắc đó chỉ là một cái chớp mắt của thời gian thì đó cũng là một bước tiến lớn tới việc tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy hòa bình chung.
 

 
Mary Croy (USA)
 


Thơ ca, Sự mỏng manh và Hòa bình: bài thơ “Bay đến Hà Nội” của Muriel Rukeyser

 

 

Thơ ca, Sự mỏng manh và Hòa bình: bài thơ “Bay đến Hà Nội” của Muriel Rukeyser
Tập thơ đầu tiên mà tôi tìm thấy ở Hà Nội là tập thơ của nhà thơ nổi tiếng người Mỹ - Muriel Rukeyser. Trong tập thơ này có một bài thơ rất ngắn về Hà Nội, có tên gọi Bay đến Hà Nội, như sau:
Bay đến Hà Nội
 
Tưởng rằng sẽ đến gặp những nhà thơ, nhưng tôi đang đến gặp những đứa trẻ
Tưởng rằng sẽ đến gặp những đứa trẻ, nhưng tôi đang đến gặp những người phụ nữ
Tưởng rằng sẽ đến gặp những người phụ nữ, nhưng tôi đang đến gặp những chiến sĩ
Tưởng rằng sẽ đến gặp những chiến sĩ, nhưng tôi đang đến gặp những người phụ nữ và những người đàn ông, những người đang phát minh ra hòa bình
Tưởng rằng sẽ đến gặp những người phát minh ra hòa bình, nhưng tôi đang đến gặp những nhà thơ
Cuộc đời tôi đang bay
                   đến cuộc đời của bạn
 
Muriel Rukeyser hành động cùng lời nói và là nhân chứng đầy sức mạnh cho hòa bình bằng cách đã thực sự bay đến Hà Nội vào năm 1972 cùng với Denise Levertov và Jane Hart để phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Cuộc hành trình dũng cảm này chỉ cho chúng ta thấy những con đường bất ngờ mà thơ ca sẽ dẫn chúng ta đi nếu chúng ta cho phép nó dẫn ta đi. Bài thơ ngắn về chuyến bay của Muriel Rukeyser minh họa cách thức mà ngôn từ có thể dẫn dắt chúng ta đến thế giới của sự kinh ngạc. Thế giới này bao gồm những địa đạo, hang động, những hầm trú bom – những địa điểm có thể cho phép chúng ta lắng nghe như những con người và cất lên giọng nói của chính con người.
Cả bài thơ chứa đầy những sự thay đổi diệu kỳ và không thể lường trước. Thật vậy, như câu thơ đầu tiên khẳng định, chúng ta – những nhà thơ trong sâu thẳm tâm hồn chính là những đứa trẻ. Chúng ta đã bảo tồn và làm tinh tế hành vi tưởng tượng trong tâm thế vừa hạnh phúc tinh nghịch, và trong một chiếc giếng sâu có thể nuôi dưỡng chúng ta và cộng đồng của chúng ta. Chỉ bằng việc thông qua hành động sáng tạo, nhận lấy rủi ro của việc tiết lộ và sẻ chia những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta trong một hoàn cảnh dễ tổn thương, mà chúng ta có thể bước lên phía trước, tìm thấy giọng của mình và giọng của bài thơ.
Nhưng chúng ta cũng đừng để mình lẫn lộn giữa trạng thái trẻ thơ của nhà thơ với việc vô trách nhiệm hoặc non nớt. Thơ ca luôn luôn đòi hỏi sự trưởng thành và khám phá về một tiếng nói nhỏ bé nhưng phát sáng và  bền bỉ từ phía bên trong. Đó là một tiếng nói muốn được lắng nghe, bất kể những cái giá phải trả về mặt xã hội. Nhà thơ Muriel Rukeyser và những người bạn đồng hành của bà đã làm chính phủ Mỹ nổi giận và đã chấp nhận nguy hiểm tính mạng khi đến Hà Nội – lúc đó đang bị bao vây – bởi vì họ biết rằng ngôn từ của họ và cuộc đời họ yêu cầu họ làm thế - không thể kém hơn. Thơ ca hơn cả những ngôn từ trên một trang giấy, nó là một quá trình của sự sống, tuôn chảy như một dòng sông và đưa chúng ta đi, để chúng ta gặp gỡ rất nhiều nghe và lắng nghe nhiều bài hát trong hành trình ấy.
Thật nực cười, nhưng cũng từ sự tối cần thiết, ba nhà thơ (Muriel Rukeyser, Denise Levertov và Jane Hart) đã phải đến một địa điểm chiến tranh để tìm thấy ý nghĩa trung thực nhất của hòa bình, tìm thấy những chiếc rễ của hòa bình. Trong năm 1972, những người Hà Nội đã phải trải qua rất nhiều khó khăn và việc đó kéo dài suốt những năm chiến tranh. Nhưng những con người dũng cảm này không những chỉ mong chờ hòa bình, mà còn hiểu rất rõ về bản chất của hòa bình, chính vì những gì họ phải trải qua. Thơ ca không chỉ là hành vi sáng tạo đơn độc, mà nó còn là cách để sẻ chia và thấu hiểu một con người khác. Nhà thơ Muriel Rukeyser và những người bạn đồng hành biết rằng để có thể chiến đấu nhằm dành được, bảo vệ và trân trọng hòa bình, họ phải nhìn thấy gương mặt của hòa bình.
Bài thơ là một vòng tròn và xác nhận rằng những người phải chịu đựng sự đau khổ do chiến tranh gây ra không chỉ là “những người phát minh ra hòa bình”, họ cũng còn là những người cha và những người mẹ của thơ ca. Chỉ qua hành động cụ thể và đôi khi dũng cảm, và bằng sự mong muốn sẻ chia trái tim của chúng ta ở những thời điểm dễ tổn thương nhất, chúng ta mới có thể sáng tạo ra một bài thơ.
Vì lẽ đó, chúng ta có thể nói rằng hành động sáng tạo ra thơ ca (hoặc bất cứ loại hình nghệ thuật sáng tạo nào) là điều cần thiết cho việc thiết lập hòa bình.  Thông qua hành vi cao cả của việc tiết lộ thế giới nội tâm, chúng ta mới có thể thực sự kết nối với những dân tộc khác và gây dựng được sự cảm thông và thấu hiểu từ nơi sâu thẳm nhất.
 

Pornpen Hantrakool (Thailand)

 

Năm bài thơ của tôi là:
Chiến thắng chính mình, Đất nước tôi, Sự căm ghét, Im lặng buồn và Hãy cười bất cứ lúc nào
 
Bài thơ thứ nhất chỉ ra rằng cảm giác thực sự của chiến thắng không cần phải bắt nguồn từ việc thắng ai hay thắng cái gì. Chiến thắng đầu tiên, hoặc có lẽ là chiến thắng cuối cùng mà bạn thực sự muốn đạt được là chiến thắng chính mình. Với mục đích chiến thắng chính mình, bạn sẽ rèn luyện được sự mạnh mẽ cho chính bản thân và bồi dưỡng ý chí tự chủ để tiếp tục phấn đấu. Đây là chiến thắng vượt xa mọi hy vọng mà bạn có thể tìm thấy.
Bài thơ thứ hai và thứ ba là hết quả của những gì đã diễn ra ở đất nước tôi trong 5-6 năm nay. Đó là cuộc đảo chính năm 2006, những xung đột chính trị kéo dài, và cuộc thảm sát đẫm máu vào tháng 5, năm 2010. Trong thời gian này, lòng yêu nước của người Thái được đẩy lên cao độ, điều đó dẫn đến việc Campuchia trở thành một nạn nhân của việc tấn công liên quan đến đền thờ Vihara. Vì thế, sự căm ghét lan tràn khắp nơi, lan đến trong trái tim của cả người Thái vốn dĩ tốt bụng, làm người Thái ghét người Campuchia, và ghét cả những người trong cùng đất nước (ví dụ như phe Áo vàng và phe Áo đỏ). Vào thời điểm này, mặc dù đất nước tôi lâm vào khủng hoảng lụt lột, vẫn không có dấu hiệu rõ ràng về sự hòa giải.
Bài thơ thứ tư nói về bản chất của sự xung đột con người ngay trong chính bản thân con người ấy. Và đôi khi, điều sâu thẳm trong con người – điều cần được phơi bày, lại không có tiếng nói và thường bị bỏ qua. Đó là điều rất buồn.  
 
Bài thơ thứ năm dựa trên nguyên lý của Đạo phật. Đó là Pancakhandha (Ngũ uẩn) - năm yếu tố gắn với cuộc sống: thể xác, cảm giác, nhận thức, hành vi và ý thức (liên quan đến tâm hồn). Cuộc sống chắc chắn bắt nguồn từ và kết thúc với năm yếu tố này. Cuộc sống cuối cùng sẽ biến mất và không còn gì ở lại để chúng ta phải lo lắng. Vì thế, trong mỗi giai đoạn của cuộc đời, chúng ta hãy cứ cười.

 
Mai Văn Phn (Viet Nam)
 
 
V đp và quyn năng ca thơ ca

 
Dù được viết theo bất kỳ khuynh hướng nào, thơ ca luôn mang vẻ đẹp nguyên khởi, nhằm phục sinh, tái tạo thế giới, mãi đối lập với cái xấu và gian tà. Thơ ca là ánh sáng đẩy lùi bóng tối, là nước mát làm xanh tươi mặt đất, là vị thuốc chữa lành những vết thương tâm hồn, đánh thức thiên lương con người để họ không rơi vào vũng lầy tha hóa, sống nhân hậu thân thiện hơn.
Lịch sử, tâm lý, tập tục truyền thống… của mỗi dân tộc đã tạo nên những mật mã trong ngôn ngữ, vừa hiển ngôn vừa bí ẩn sau những tín hiệu vần điệu, tục ngữ, dân ca, và… Thơ. Tất cả đã cháy lên, như ngọn lửa bất diệt soi chiếu tầm vóc, cốt cách dân tộc. Nó đã trở thành tài sản tinh thần của dân tộc Việt qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đồng hành với lịch sử, những bài thơ hay, câu thơ hay treo lên lý tưởng đẹp đẽ của độc lập dân tộc và giá trị nhân văn cao cả, tạo nên nội lực, sức mạnh phi thường để chúng ta từng giành lại đất nước.
Qua mỗi giai đoạn lịch sử, những cuộc giao lưu giữa các nền văn hóa đã làm thay đổi, phong phú thêm những quan niệm thơ ca. Quan niệm mỗi nền thi ca chỉ có giá trị trong ngôn ngữ mẹ đẻ là phiến diện và nghèo nàn, không thể tồn tại  lâu khi những cuộc giao thương, di dân, hội nhập trong lịch sử đã mang đến cho thơ những quan niệm mới. Nó như luồng gió mạnh bên ngoài ùa vào làm thay đổi, phồn sinh những quan niệm có sẵn. Phong trào Thơ mới (1930 - 1945)  là ví dụ điển hình - kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Đông–Tây hồi đầu thế kỷ XX.
Chúng ta đang sống trong một thế giới còn nhiều cách biệt giữa các dân tộc, giữa con người với nhau còn xa lạ, đôi khi là hố thẳm..., thơ ca là cầu nối, là bàn tay chân thành, giọng nói ấm áp để chúng ta tìm đến với nhau, cảm thông, thấu hiểu nhau hơn. Nhờ có thơ ca, chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp linh diệu, bí ẩn... cũng như thấy được sức mạnh tinh thần hiển linh và tiềm ẩn của dân tộc ấy. Chúng ta tựa vào thơ ca để ngày thêm hoàn thiện, thay đổi, được lớn lên và bình đẳng giữa các dân tộc trên trái đất.
Thơ ca với muôn vàn những quan niệm khác nhau và dị biệt, luôn được cải biến hoàn thiện, phong phú cùng với thời gian tựa như cây lớn trong trời rộng chiết thêm nhiều cành nhánh. Mỗi cá thể sáng tạo đều chọn cho mình con đường riêng biệt, nhưng mọi nhà thơ đều chung một đích đến là khám phá và tôn vinh cái Đẹp. Nhà thơ thường đơn độc khi sáng tạo với cái tôi riêng biệt, duy nhất của mình;  nhưng trong sự riêng tư, tưởng như đơn độc ấy, anh ta đã gặp nhân loại, gặp cội nguồn những khát vọng, chạm mặt mơ ước của loài người về một thế giới hòa bình, không kỳ thị sắc tộc, tôn giáo, vượt lên sự khắc nghiệt của chiến tranh, thiên tai, bạo loạn… Đó là thế giới của những giá trị nhân văn. Do vậy, tầm vóc của thi sỹ nhiều khi không nằm ở vấn đề mà anh ta đặt ra, mà ở cách tiếp cận, cách dồn nén cảm xúc đến tột đỉnh cho một vấn đề tưởng chừng đơn giản, nhưng hiệu quả của nó thật lớn lao và bất ngờ. Ánh sáng của nó soi rọi cho bạn đọc nhìn thấy những mối quan tâm lớn của thời đại, tính cập nhật của đời sống. Thơ ca bất ngờ cất lên tiếng nói chân thành. Và, chân thành luôn là nghệ thuật hàng đầu của thơ ca. 
Chúng ta nhận ra thơ ca đích thực, dù được chú trọng hay thờ ơ, được tôn vinh hay bị lợi dụng vẫn luôn tỏa sáng.
Cần lưu ý là mọi thái độ, cung bậc tình cảm của con người nhiều khi là cái cớ chứ không phải mục đích của thi ca. Thơ ca vốn tạo ra thế giới riêng biệt mà chỉ nhà thơ mới có. Tất cả hiện tượng đời sống, mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên là “chất liệu” để nhà thơ đặt vào trong không gian riêng biệt và kỳ ảo của mình. Thơ ca thường không áp đặt mà mở cánh cửa để bạn đọc đi vào thế giới của nhà thơ, đúng hơn là nhà thơ dẫn dắt, khêu gợi để bạn đọc tự mở cửa tâm hồn mình, để họ thấy được những kỳ diệu và bất ngờ, giống như ai đó tự tìm được kho báu ngay chính trong ngồi nhà của mình.
Kiếm tìm chỗ đứng cho thi ca Việt trong khu vực và thế giới ngày nay là cơ hội và thách thức to lớn đối với các nhà thơ Việt Nam đương đại. Chúng ta sẽ tụt hậu, và, bị quên lãng nếu cứ giữ mãi những quan niệm cũ. Nhất định là cần thiết tiếp xúc với con đường nghệ thuật và tư tưởng mà thi ca thế giới đã đi để sáng tạo những giá trị mới và riêng biệt. Chúng ta cần xác định chính xác và chân thực thơ Việt đang ở đâu và cần phải làm gì. Tôi luôn khao khát và tin tưởng thơ chúng ta sẽ tạo được khuynh hướng hiện đại cách tân mang đậm bản sắc Việt. Nếu vẻ đẹp của thơ là đóa hoa thấm đẫm nhân văn thì quyền năng của thơ chính là sự tái tạo khả năng cảm xúc và suy tưởng, làm xuất hiện những giá trị tinh thần mới, một thế giới mới.
 

Phiên họp cuối của hội thảo Thơ vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, hữu nghị và phát triển kết thúc bằng việc, các đại biểu đại diện cho các quốc gia tham dự Liên hoan thơ cùng ký tên vào lá cờ chung, như một thông điệp: Hãy chung tay xây dựng thế giới hòa bình, lấy thơ ca thay thế vũ khí hủy diệt, nối kết tinh thần hòa hiệp quốc tế trong mái nhà chung mang tên Trái Đất.
 

Một số hình ảnh trong buổi họp 
 

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm
 

 

 


Tin và Ảnh: Thụy Phong
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: nhà thơ, viet nam

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tạp chí đã xuất bản

Tạp chí Nhà văn số 3-2012
Tạp chí nhà văn số tết 2012
Tạp chí nhà văn số tháng 12 năm 2011
Tạp chí nhà văn số tháng 10 năm 2011

Quảng cáo

Tổng công ty giấy Việt Nam

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 32

Máy chủ tìm kiếm : 4

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 1034

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 95954

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1151812

Tạp chí Nhà văn

Tạp chí Nhà văn Tạp chí của Hội nhà văn Việt Nam

Tiêu điểm