Nhà thơ FRED MARCHANT Cuốn sách thơ gần đây nhất của Fred Marchant là The Looking House (Graywolf Press, 2009) được Barnes và Noble Review nhận xét là một trong năm cuốn sách thơ hay nhất trong năm 2009. Ông cũng là tác giả của Tipping Point, giành giải thưởng Washington về thơ ca năm 2003 và Full Moon Boat (Graywolf Press, 2000). Một tuyển tập thơ mới của ông có tên House on Water (Nhà trên nước), House in Air (Nhà trên không), đã được nhà xuất bản Dedalus, Dublin, Irlend xuất bản trong năm 2002. Fred Marchant cũng là đồng dịch giả (với Nguyễn Bá Chung) cuốn Từ góc sân nhà em của nhà thơ Trần Đăng Khoa, xuất bản năm 2006 tại Hà Nội. Ông cũng là biên tập viên của Another World Instead:
Những bài thơ đầu tiên của William Stafford, 1937-1947 (Graywolf Press, 2008), một tuyển tập những tác phẩm ông sáng tác khi ông là người phản đối Thế chiến II.Ông là giáo sư tiếng Anh và Giám đốc của Chương trình Viết Sáng tạo và Giám đốc Trung tâm Thơ tại Đại học Suffolk ở Boston. Tốt nghiệp cao học ở Đại học Brown, ông có bằng Tiến sĩ của Đại học Chicago, Ủy ban Tư tưởng xã hội. Ông là một giảng viên lâu năm ở Trung tâm William Joiner chuyên nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả xã hội tại Đại học Massachusetts-Boston. Ông đã dậy tại các cuộc hội thảo trên khắp đất nước, trong đó có The Frost Place, và là người đồng giành giải thưởng (với Afaa Michael Weaver) May Sarton của câu lạc bộ thơ New England Club, giải thưởng được trao cho những nhà thơ mà "tác phẩm của họ là một nguồn cảm hứng cho các nhà thơ khác".
Huế, trong đêm
Tại đàn Nam Giao
Đôi khi tôi nghĩ Huế là trung tâm của vũ trụhàng nghìn cặp mắt đang dõi theo chúng tôi ở đâyCặp kính kín đáo của vầng trăng giữa đám mâyCặp mắt nóng rực của bó hươngđang cắm vào đá.Cặp mắt phóng đại của khoảnh sân nơi vua đi dạo,nơi những phiến đá vang lên hùng tráng.Cặp mắt nghi ngờ của người đàn bà đang cầu nguyện bên thềm tối.Cặp mắt mờ mịt của ánh đèn pha.Và ánh lập lòe của những ngọn nến được thả trên sông.Cặp mắt của những người không còn ở đây nữa.Và cặp mắt sống động của những người là bạn tôi. Kỷ nguyên Việt Nam Năm 1959 anh 13 và dậysớm hơn anh có thể nghĩ, biết rằngnhững con chim chẳng có ý nghĩa gìvới anh, rời nhà sớmvới cái bụng trống rỗng để phát tin tức,lờ đi lời cảnh báo của mẹvề sự buồn ngủ, đánh bật người chađang đầy mồ hôi ra ngoài cửa,để nhảy lên chiếc xe đạp cơ quanvà đạp thẳng đến nhà ganơi những tờ báo Globes và Heralds ([1]) đang đợiđể được cuộn lại và chất lênchiếc giỏ kim loại, chiếc túi vải.Hãy để những người khác đicâu cá: anh đi khắp thành phốchưa có tên trên bản đồ, một khu vực hiện ratrên những tít báo và giao thông. Anh đang giảm cân vàtiết kiệm tiền để đi học. Những tờ báoanh ném đi anh tưởng tượng nhưlựu đạn, vẵnhng hành lang nơi lựu đạnrơi xuống bùng nổ thành đám lửa,thổi những cô gái nhỏ baythẳng vào cánh tay của anh,vũ khí đã nhuốm những vết đen của mìnhtừ những việc làm đầy máu của thế giới,cuộc chiến của bản thân anh chỉ còn 7 năm nữa là kết thúc.
[1] Globes và
Heralds: là hai tờ báo lớn ở Boston.