11:01 ICT Thứ bảy, 25/05/2013

Trang nhất » Tin Tức » Sáng tác

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

Thứ tư - 11/04/2012 09:19
NGUYỄN HỮU QUÝ
Tản văn
 
 
 
Mệ nội
 
 
 
 
Quê tôi, bà được gọi là mệ. Người sinh ra bố mình thì gọi là mệ nội. Người sinh ra mẹ mình thì gọi là mệ ngoại. Cho đến bây giờ, tôi vẫn muốn gọi bà là mệ. Mệ nội, mệ ngoại yêu dấu của tôi.
Mệ nội tôi mất năm 1975. Đã ba mươi sáu năm rồi. Mồng sáu tháng Chạp ta, trước Tết nguyên đán mấy mươi ngày. Khi mệ mất, tôi đi bộ đội, xa nhà, không hề biết tin tức gì. 29 Tết tranh thủ về thăm quê, bước vô nhà thấy khói hương nghi ngút trên bàn thờ có ảnh mệ. Bàng hoàng, sững sờ, tiếc thương đến mức cứng người lại không khóc, không kêu được một tiếng nào. Nghẹn ngào, đứng lặng nhìn mệ mờ mờ sau làn khói lam cay.
Đời mệ tôi, chồng chất khổ ải. Chồng mất từ năm 1945. Bố tôi nói ông nội tôi chết vì đói. Nạn đói khủng khiếp trong lịch sử nước nhà. Sáu, bảy lần sinh nở chi đó mà chỉ trầy trật nuôi được ba mống con; hai gái một trai. Bố tôi là con út, thời bé đặt tên là cu Lỳ sau lớn lên mới đổi thành Lý, Nguyễn Hữu Lý. Chẳng biết có phải do góa chồng từ khi đang còn trẻ, phải bươn chải buôn thúng bán mẹt đầu sông cuối chợ nuôi con mà tính khí mệ tôi khá "rắn", ai nói điều chi không vừa ý là bốp chát lại luôn. Bố mẹ tôi phải giữ gìn từng ly từng tý vì sợ mệ bốc hỏa chửi cho thì vuốt mặt không kịp. Bà con láng giềng cũng thế, không ai nói mệ tôi xấu nhưng cũng ít ai ưa cái tật hay chửi của mệ tôi. Mệ hay chửi nên đôi khi tôi cũng phiền toái với bạn bè. Tôi đã từng đánh nhau u đầu toạc trán với cái thằng nhại giọng chửi của mệ tôi. Lớn lên, khi không còn mệ nữa tôi mới nghĩ được rằng chửi chính là thứ "vũ khí lợi hại mang tính tự vệ" của người phụ nữ có ba mươi năm thủ tiết thờ chồng nuôi con. Không giữ mình được bằng gậy gộc dao rựa thì phải giữ mình bằng ngôn ngữ chua ngoa. Chua ngoa để không đấng nam nhi nào dám đến gần, không có gã mày râu nào ve vãn tòm tem để mình yên phận ở vậy buôn bán kiếm đồng ra đồng vào cho con ăn học. Có lẽ, ban đầu là thế sau thành thói quen, ai đụng đến mình, ai mình không ưa là chửi. Chửi mãi, chửi nhiều thành quen.
Ấy thế mà, mệ nội thương tôi, chiều tôi lắm. Tôi, thằng cu Lý (tục quê tôi gọi con trai là cu gắn với tên bố) là cục vàng, cục bạc của mệ tôi đó. Ai đụng đến tôi là đụng đến “lãnh địa thiêng liêng” của mệ. Mắng tôi à, đánh  tôi à, trong hay ngoài nhà ai cũng ngại bài chửi trầm bổng của mệ tôi. Ngại lắm, nên tôi hay được tha bổng khi phạm lỗi hoặc là chỉ bị nhắc nhở rất nhẹ nhàng thôi.
Tôi nhớ, mỗi bận đi chợ về mệ đều có quà cho chúng tôi. Khi thì cái bánh đa lúc thì quả na, trái thị. Bắp ngô, củ khoai cũng là quà của mệ dành cho. Lạ lắm, chẳng biết có phải tôi là thằng cháu đích tôn của mệ không mà bao giờ, lúc nào người cũng cho tôi phần nhỉnh hơn. Tình cảm mệ dành cho tôi, tôi nghĩ có gì đó hơi cực đoan nhưng đó là sự cực đoan tự nhiên, nó đã thấm vào máu từ lâu rồi, hình như thế. Cho đến thời nay, vị trí thằng cháu đích tôn vẫn được coi trọng trong các gia đình, dòng họ, có phải thế không?
Chuyện xưa nhắc lại, kể lại, thương hơn người đã khuất, chứ chẳng để làm gì cả, bởi dầu sao tôi cũng đã lớn rồi, đã thành người. Buồn. Vẫn thường hay nhắc đến chuyện xưa, kỷ niệm xưa. Lòng dịu lại bởi những hồi ức như thế. Hồi ức tôi còn rười rượi ánh trăng quê, nằm trên chiếc chõng tre kê ở thềm nhà lưng man mát những luồng quạt của mệ. Quạt mo cau mệ đưa qua đưa lại, liu riu gió. Quạt giấy nhẹ hơn, nghe phần phật, phần phật. Mùi trầu cau nồng nồng, cay cay từ mệ phảng phất vào tôi. Tay mệ gãi gãi lên khắp lưng tôi. Rồi, bàn tay ấy lại úp nơm, lại làm kiến bò nhồn nhột trên lưng. Tôi thiu thiu ngủ trong lời ru của mệ: Thương chồng nấu cháo le le/ Nấu canh bôông bín, nấu chè đậu đen...
Hồi ức tôi còn tóa lóa lời mệ nội chửi thằng Mỹ khi nó ném bom xuống quê tôi. Trận mồng 5-8-1965. Lần đầu tiên nghe máy bay phản lực rú rít trên đầu, nghe tiếng bom nổ ùng oàng lũ trẻ con chúng tôi sợ chết khiếp. Mặt đứa nào đứa nấy tái xanh. Tôi sợ đến mức không ăn được cơm. Cơm trắng. Canh mực nấu dưa chua. Cá thu kho mặn. Mệ tôi hì hụi nấu. Ngon lắm. Thế mà, miệng cứ đắng ngắt không nuốt nổi. Mệ tôi thấy thế, ức quá, chỉ tay lên trời: Thằng Mỹ, mi ăn máu l... nhà ai mà mi mang bom đến đây thả, hỉ. Mi ăn cứt con mô mà mi làm cho cháu tau sợ như rứa, hỉ. Có giỏi mi đến trước mặt tau đây coi. Tau, thì tau lấy quần đập vô cái mặt l... của mi, đó nghe, đó nghe... Có thể, nguyên văn câu chửi của mệ tôi không hoàn toàn vậy nhưng đại khái là thế, là thế, xin thành thật thuật lại với các bạn.
Mỹ bắn phá quê tôi ngày càng dữ dội hơn. Mệ thay bố mẹ dẫn mấy anh em chúng tôi đi sơ tán. Tôi nhớ mệ với dáng lưng còng còng vô ra chiếc lều bé nhỏ, phía trước cửa treo mấy chiếc bánh chưng. Quê tôi gọi là bánh rò. Bánh do mệ tôi làm bán cho người qua đường để kiếm thêm mấy đồng tiền lẻ nuôi chúng tôi. Mệ ơi, những chiếc bánh nếp dẻo thơm của mệ, những đồng tiền nhăn nhàu của mệ vẫn còn hằn in trong tâm trí cháu. Có giấc mơ, cháu đi tìm và đã thấy mệ mờ mờ tỏ tỏ trong một căn nhà lều tranh     tối tranh sáng, bếp lửa đang cháy đỏ, mấy chiếc bánh chưng tỏa hơi thơm phức và những đồng hào lấm láp. Có đúng thế không   hả mệ?
Hình như mệ tôi rất ít khóc. Rất ít khóc. Trong hồi ức của tôi, chỉ lưu lại một lần mệ tôi khóc. Khóc nức nở. Kể lể. Than van. Bên linh cữu mẹ tôi. Mẹ tôi chết vì bom bi Mỹ khi mới 32 tuổi để lại năm anh em chúng tôi còn rất nhỏ dại. Tôi, con đầu lúc ấy mới 12 tuổi; em Hà tôi út ít mới lên 2 gầy gò ốm yếu như một con mèo vì suy dinh dưỡng. Mệ khóc, mệ than, sao con bỏ con, bỏ chồng, bỏ mạ mà đi sớm rứa con ơi, con đi rồi ai mua trầu cau cho mạ nữa, con đi rồi làm răng con Hà nó lớn lên nổi con ơi, răng trời không để mạ chết thay con, trời ơi là trời, Mỹ ơi là Mỹ răng mi ác rứa, mi giết con tau rồi, mi mần cực, mần khổ cháu tau rồi...
Mấy năm tôi học cấp ba mệ đã yếu rồi. Nhà nghèo. Ăn uống chẳng có gì. Mệ gầy gò nhăn nheo hơn. Tôi thường thấy mệ hay kêu đau ngực và ho nhiều. Có lúc mệ ho ra máu. Những lúc ấy, mệ bảo tôi đi đào rau má cho mệ. Rau má tươi, mệ giã ra để lấy nước uống. Thuốc trị chữa bệnh ho của mệ chỉ có vậy thôi. Chỉ vậy thôi, những búi rau má để nguyên cả gốc và lá đem giã nhỏ lấy nước uống. Mệ ơi!
Nấm mộ mệ là nấm cát. Cát quê tôi tao tác đổi dời khi có giông bão, gió lào, lũ lụt. Mỗi bận về quê, lòng tôi nghẹn ngào rưng rưng khi đứng trước những nấm cát nhấp nhô trong đó có mộ mệ. Thương đến đắng lòng mà vẫn chưa làm được cái gì thêm cho người đã khuất. Mấy nén hương thắp lên. Cháy. Thơm đến cõi nào? Mong mệ hiển linh mộng báo. Sống, tha hương, chìm khuất. Chết, cũng vậy sao, chưa cao ráo một chốn nơi. Hiểu lòng người sống đã khó, với người khuất mặt càng thăm thẳm mờ mịt làm sao. Vô cùng là cõi đời. Càng vô cùng hơn là cõi ấy... nơi ta chưa từng chạm tới.
Ôi, những sự vô cùng bí ẩn và đắng đót làm sao!
 

 

Em Hà

 
 
Mẹ tôi có mang em vào năm bom đạn ác liệt ở Quảng Bình.
Thời ấy, không ai ở vùng đất này kể cả lũ con nít như chúng tôi nghĩ rằng mình sẽ sống sót qua cuộc chiến tranh. Bom trên trời dội xuống, pháo ngoài biển câu vào, làng xóm bị đào lên lấp xuống tan nát tơi bời. Hồi chín, mười tuổi, tôi đã tận mắt thấy cảnh người bị mảnh bom phạt cụt đầu, máu bắn lên thành tia ở cổ, những đoạn ruột người, ruột trâu bò... mắc trên cành cây, thức ăn và phân vãi ra tung tóe. Có nhà đêm ngủ chung hầm bị bom ném trúng, cả 7 người nhặt lại chỉ được một rá thịt bầm tím lấm lem đất cát.
Mẹ, tôi còn nhớ, bụng to bề bề vẫn phải tất tả buôn xuôi bán ngược để nuôi anh em tôi, mặc kệ trên bom dưới đạn. Nhìn chúng tôi, mẹ hay thở dài, tưởng đời mẹ phải chịu chiến tranh giặc giã ai dè đến đời các con cũng nỏ thoát. Một đôi quang gánh, chiều đi chợ mua cá về kho, sáng mai đem lên mấy làng làm nông lân cận đổi khoai, đổi lúa về. Nhờ thế, mà mẹ bữa cơm bữa cháo nuôi được bốn đứa con để ba tôi rảnh rang lo việc ở trạm y tế xã.
Mẹ sinh em Hà ra sao tôi không được rõ. Chỉ biết là mẹ không sinh ở nhà. Đi học về, tôi nghe bà nội bảo, ba bây đưa mạ bây đi đẻ ở bệnh viện huyện rồi. Cái chuyện sinh đẻ thế nào lũ con nít như tôi làm sao biết được, chỉ mang máng nghĩ rằng mấy hôm nữa mẹ sẽ bồng em bé về.
Mấy hôm sau, mẹ bồng em bé về thật. Tôi nhìn nó, nhăn nheo, bé như một con mèo, ngo ngoe trong chiếc tã màu cỏ úa. Mấy đứa em tôi cũng xúm đến, cái Liên cầm tay mẹ lắc lắc, mạ, dăng em nhỏ dứa. Em mới sinh mần răng mà to được con, giọng mẹ buồn buồn. Dứa, em miềng têng chi mạ, thằng Hóa ngọng líu hỏi. Ba đặt tên cho em là Hà; Quý, Hóa, Liên, Hùng, Hà, mấy con thấy hay không, mẹ có phần vui hơn. Bà nội góp lời, con gái đặt tên Hà hay đó, mệ cũng thích cái tên nớ...
Từ khi mẹ mang em Hà về tôi thấy mẹ có vết sẹo vắt ngang bụng. Tôi hỏi, mẹ bảo: mẹ phải mổ khi sinh em Hà. Sao đẻ bọn con mẹ không phải mổ, tôi hỏi tiếp. Mẹ xoa đầu tôi, vì em Hà hư không chịu ra nên bác sĩ phải mổ để đưa em ra. Tôi không hiểu lắm điều mẹ nói nhưng cũng lờ mờ đoán được mẹ sinh em Hà ra không giống mình.
Nhà có thêm em bé, mẹ vất vả hơn. Vài tháng sau khi sinh mẹ lại phải quang gánh trên vai chạy chợ. Sợ chúng tôi đói, mẹ tranh thủ thời gian cuốc đất trồng thêm khoai sắn. Áo bà ba nâu, quần xắn gối, chiếc nón đã xổ vành đội đầu, mẹ cặm cụi cuốc hết vạt đất này đến vạt đất khác. Đất chân núi, sỏi nhiều, chiếc cuốc chốc chốc lại tóe lửa. Chiếc áo mẹ mặc đầm đìa mồ hôi, khi khô từng quầng muối đọng trắng xóa.
Tối nào tôi thấy mẹ cũng phải rửa vết mổ. Đã hơn một năm mà chỗ mổ khi mẹ sinh em Hà vẫn chưa lành. Mủ vẫn còn rỉ ra. Có lẽ, do mẹ tôi làm việc nặng nhiều quá, mồ hôi thấm rịn vào vết mổ nên khó khô. Bà tôi, ba tôi nhiều lúc nhắc mẹ nhưng vì quá thương con nên mẹ ít khi ngơi tay làm việc. Bù lại, nhờ có sắn khoai của mẹ trồng nên chúng tôi có cái ăn trong những ngày bom rơi đạn nổ.
Điều làm mẹ buồn nhất là em Hà không chịu lớn. Nó cứ nhỏ xíu như hồi mới sinh. Hơn một tuổi rồi mà em vẫn chỉ nằm một chỗ trên tấm phản trong nhà lều sơ tán. Hình ảnh của Hà ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Một thân hình mỏng dính da bọc lấy xương, xanh xao. Nếu như không có đôi mắt rất đen ngân ngấn nước và cái miệng bé xinh lúc nào cũng phải hé mở ra để hớp không khí chắc không ai nghĩ rằng đây là một sinh linh đang còn sống. Em thở rất khó nhọc, nghe như ngắt rời ra từng nhịp yếu ớt. Cho Hà ăn cháo uống sữa cũng khó, mọi thứ như mắc lại ở cổ, cố lắm em mới nuốt được.
Ba nói, em bị sinh thiếu tháng lại phải sinh mổ nên suy dinh dưỡng trầm trọng. Ba làm nghề y, thỉnh thoảng kiếm được ít thuốc bổ và mẹ vẫn chắt chiu từng hào để dành tiền mua sữa cho Hà. Những thứ ấy thời chiến tranh ở quê tôi hiếm lắm. Nhưng mọi sự cố gắng của ba mẹ tôi đều không được đền đáp xứng đáng. Em Hà vẫn như thế. Mỏng dính. Từng dẻ xương sườn nhô lên rõ mồn một sau làn da xanh tái. Hơi thở ngắt rời. Khò khè. Mỗi khi nuốt sữa, nuốt cháo cổ em như bị kéo dài ra.
Hà rất hay bị đi lỏng. Nhiều lần ba tôi phải chuyền dịch cho em. Một lần, tôi không quên được... Chiều tối, đi học về, vào ngõ tôi đã nghe tiếng mẹ tôi khóc ai oán. Con ơi... đừng bỏ mẹ mà đi nghe con. Con đi... mẹ cũng không sống nổi đâu. Trời ơi, có hành hạ thì hành hạ tui, có bắt thì bắt tui chết... tại sao lại bắt con tui... nó còn nhỏ lắm. Trời ơi... Tôi hốt hoảng bước vội vào nhà. Em tôi nằm đó leo lét như ngọn lá sắp rớt cành. Mẹ khóc. Bà chấm nước mắt. Ba đang tiêm cho em. Mấy đứa em tôi ngơ ngác. Bà con ngồi đứng trong nhà ngoài sân. Một chiếc quan tài nhỏ bé bằng gỗ tạp vừa mới đóng xong đang để ngoài sân.
Cứ tưởng rằng lần ấy em tôi đi. Chưa. Có phải vì động lòng bởi tiếng khóc ai oán của mẹ tôi mà Trời còn để cho Hà ở lại với mẹ.
Tai họa lại dội xuống gia đình tôi. Mẹ tôi mất. Một loạt bom bi của máy bay Mỹ rải xuống xóm tôi đã giết chết mẹ trong cái đêm mùa hạ mây đen quần đảo ấy. Tôi mồ côi mẹ lúc 12 tuổi, các em tôi còn bé hơn, Hà lúc đó lên 2.
Bà tôi thay mẹ chăm sóc em. Vẫn nước cháo, nước sữa đút cho em nhưng nước cháo là chủ yếu vì mẹ tôi mất, nguồn thu của gia đình giảm nhiều không đủ tiền mua sữa thường xuyên cho Hà. Đây là những năm tháng cơ cực nhất của chúng tôi. Mẹ mất, ba buồn lắm, lại phải mượn chén rượu giải khuây. Nhà nhiều lúc thiếu gạo ăn, chúng tôi phải thái rau muống hấp vào cơm. Có khi còn ăn cả cám rang. Đến sắn khoai cũng hiếm.
Em Hà vẫn nằm một chỗ, không ngồi dậy được. Càng mỏng dính.  Xanh tái. Khò khè. Em gắn chặt với tấm phản ấy từ lúc mẹ bế về nhà đến giờ chưa một lần chuyển dịch. Ăn. Ngủ. Bài tiết. Ở đấy. Chỉ một tư thế, nằm ngửa, bụng sát vào lưng, đầu gối lộ rõ. Chỉ một tư thế, nhìn lên mái lều ám khói, không nói, không cười, không khóc được thành tiếng, dưới gào rú của bom đạn. Chỉ một tư thế, từ buổi chiều định mệnh trước khi mẹ đi chợ còn thơm lên trán và dặn mấy câu đến khi mẹ đã nằm dưới ba thước đất lạnh lẽo ngoài bãi cỏ.
Mẹ mất tròn 6 tháng. Tôi đi học về, vào ngõ thấy mùi hương thoang thoảng. Nhà có mấy người vào ra. Chiếc quan tài định dùng cho em tôi lần trước ai lại đem ra đặt giữa sân. Mấy dì tôi đang dùng khăn lau cho sạch. Tôi linh cảm điều chẳng lành đang đến với Hà. Tôi lao vào nhà. Trên tấm phản quen thuộc em nằm đó. Vẫn mỏng dính, xanh tái nhưng tuyệt nhiên không  nghe tiếng khò khè nữa. Đôi mắt đen khép lại. Chiếc miệng xinh xinh không còn mở ra hớp khí. Con Hà đi với mạ con rồi, bà nội tôi nói trong nước mắt. Ly cháo vẫn còn để bên cạnh. Mấy bông hoa sim tím tôi hái vào cho em sáng qua vẫn còn tuy đã héo. Tôi nắm tay em. Lạnh ngắt. Bàn tay cũng mỏng tang như chực tan vào không khí.
Bà nội kể với mọi người, hôm qua tui thấy mạ hắn về, mạ hắn nhìn tui, nhìn con Hà nói, thôi mệ để cho cháu đi với con... tui tỉnh dậy nghe con Hà khóc, lần đầu tiên tui thấy cháu nó khóc thành tiếng, đôi mắt cháu nhìn tui như muốn nói điều chi đó, lạ lắm, ai dè chiều ni nó đi luôn.
Nấm mộ nhỏ của em Hà ở bên cạnh mộ mẹ. Như một chiếc thúng úp xuống đất. Mấy anh em tôi thường hay ra đây thăm mẹ, chơi với em. Mùa sim chín tôi lên núi hái xuống mấy chùm quả đặt lên mộ em. Em chưa bao giờ ăn được thứ quả này, nhưng là trẻ con đứa nào chẳng thích nó, những trái sim chín mọng ấy. Tôi nghĩ, Hà vẫn là trẻ con, mãi mãi trẻ con. Tôi chưa bao giờ mơ thấy mẹ và em về nhà nhưng cái Liên, em gái tôi thì vẫn thấy. Liên kể, mẹ bồng Hà về nhưng chỉ đứng ngoài ngõ trông vào, mẹ gọi em ra, mà không nói chi cả chỉ thở dài, Hà đã nói được rồi anh ạ, nó gọi em chị Liên, chị Liên...
Có thật thế không, Hà đã về với mẹ và nói được như cái Liên em tôi kể? Đến bây giờ trong tôi vẫn còn day dứt câu hỏi đó.
 
N.H.Q
 

Nguồn tin: TCNV 04-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn