21:34 ICT Chủ nhật, 19/05/2013

Trang nhất » Tin Tức » Sáng tác

Nhà thơ BRUCE WEIGL

Thứ tư - 04/04/2012 09:23
Nhà thơ BRUCE WEIGL
 
 
Bức tường đen
 
 
"Nghịch lý của đời tôi luôn là việc chiến tranh đã cướp đi tuổi trẻ của tôi, làm tổn thương tâm hồn tôi vĩnh viễn, nhưng cùng lúc đó nó đã dành tặng tôi Việt Nam với tất cả sự bí ẩn và huy hoàng của nó. Tôi không biết tại sao tôi không phải là người Việt Nam. Đôi lúc tôi cảm thấy tôi là người Việt, hoặc tôi đã từng một lần sống cuộc đời của một người Việt". Trên đây là tâm sự của nhà thơ, giáo sư tiến sĩ Bruce Weigl - tác giả của tập thơ nổi tiếng Bài hát bom Na-pan và quyển hồi ký đầy ám ảnh Vòng tròn của Hạnh. Sinh ngày 27-1-1949, Bruce Weigl sang Việt Nam khi 18 tuổi và từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967-1968 trong Lữ đoàn Kỵ binh bay số 1. Hai bài viết sau đây thể hiện nỗi ám ảnh không ngừng của Bruce Weigl về chiến tranh Việt Nam.
 
 
 
Một ngày, Victor Navasky, chủ biên tuần báo The Nation nhờ tôi viết về bức tường đen khắc tên những người Mỹ đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Bức tường Chiến tranh Việt Nam ([1]) là một phần của Đài Tưởng niệm Cựu binh Việt Nam tại thủ đô Washington. Vì lý do bài viết, tôi đến tham dự buổi họp mặt cựu binh Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên trên toàn quốc, một cuộc họp mặt được tài trợ bởi tờ báo Stars & Stripes, Hội Cựu binh Mỹ và Hội Cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Cuộc họp mặt được tổ chức ở tầng trệt của tòa nhà trụ sở báo Stars & Stripes tại thủ đô Washington.
Họ đều đến đây để dự lễ khánh thành đài tưởng niệm và để thực hiện những hoạt động kéo dài một tuần lễ tưởng nhớ những người đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh dài nhất của nước Mỹ. Họ đến dự buổi họp mặt theo từng nhóm nhỏ trong suốt buổi tối hôm đó, theo cách mà họ đã trở về quê nhà cách đây không lâu: vào ban đêm, trong mưa, theo những nhóm nhỏ. Một số người đã nghĩ rằng có thể đưa chúng tôi về từ cuộc chiến và nhét chúng tôi trở lại không gian chúng tôi đã để trống khi tham chiến một năm về trước. Nhưng hóa ra mọi thứ không thể xảy ra như thế. Hóa ra nhiều người trong số chúng tôi bị tổn thương nặng nề về tâm lý trong suốt thời gian sau ngày trở về.
Vào chín giờ tối, đêm thứ Sáu, căn phòng chật ních cựu binh Việt Nam, cựu binh từ Thế chiến thứ II, y tá quân đội, chính trị gia, những người bị thương nặng, những kẻ tò mò, những người giận giữ và cay đắng, những người không may mắn, những chiến binh sốt sắng hăng hái đến từ những cuộc chiến có thật, những cuộc chiến tưởng tượng và một cuộc chiến chung trong trí nhớ chúng tôi. Chúng tôi được ban ơn bằng bia rượu trị giá năm nghìn đô la, bằng sự có mặt của nhau, và được cách ly khỏi thế giới trong buổi tối đó. Chúng tôi đổ ra đường, tụ tập thành từng nhóm nhỏ như những tiểu đội để kể cho nhau nghe tất cả những lời nguyền cũ.
Tôi không biết lý do tại sao chúng tôi đến đây. Chúng tôi đã thay đổi rất nhiều.
Tại buổi xét xử Chất độc Da cam trong tòa nhà Quốc hội Cannon cùng ngày, một người đàn ông từ thành phố Cleveland đứng lên và trình bày với một ban hội thẩm gồm những chuyên gia. Khóc ròng, ông ấy kể cảnh con mình đang chết bởi bệnh não và những đau đớn thể xác dai dẳng, khốc liệt mà ông đã phải gánh chịu vì phơi nhiễm con quỷ Dioxin. Đó là sự trả thù của bóng ma đối với thân thể. Ông khóc và van xin và chỉ cầu xin được giúp đỡ. Mười lăm năm ròng không ai giúp ông, và ông không biết phải chờ thêm bao lâu nữa.
"Hãy để thế giới phán xét công lý!", ông nói.
Lần lượt họ đứng lên làm chứng, mỗi người một nỗi đau riêng, tất cả chung cùng nỗi đau là bị đánh cắp mất nhiều năm trong cuộc đời của họ.
"Hãy để thế giới phán xét công lý!", người đàn ông từ thành phố Cleveland nói, khóc và ngồi xuống.
Nhưng thế giới không được phép vào đây ngày hôm nay, và buổi tối nở thành những câu chuyện, người ta khôi phục lại những kỷ niệm về Việt Nam đến khi những câu chuyện bắt đầu kết nối lại và bằng cách nào đó trở thành một câu chuyện chung.
Tôi đứng trong mưa cùng Gary Beikirch, tách ra khỏi mọi người. Anh là một người đàn ông to lớn, rụt rè và khiêm tốn - một người đã được tặng Huân chương Danh dự về hành động dũng cảm tại Việt Nam. Khi rời chiến trường, Gary chuyển lên núi Maine trong nỗ lực chữa trị vết thương. Anh đã phải sống một nghìn cuộc đời, và anh mệt mỏi. Hai năm sau ngày anh trở về, người ta gọi anh xuống thủ đô Washington và Nixon gắn Huân chương lên ngực anh. Trời ơi, sao lại là Nixon? Gary về nhà, giấu huân chương đi như cách mà anh đã cố gắng dập tắt ác mộng chiếc huân chương đó đại diện.
Chúng tôi run lập cập trong mưa. Cảm giác một điều gì đó tốt lành đang diễn ra xung quanh chúng tôi khiến chúng tôi ngạc nhiên. Dường như những con ma cuối cùng cũng bị đuổi ra khỏi trái tim của chúng tôi, và Gary, người không dễ thú nhận những nỗi đau của mình, mở lòng. Anh kể về nó cẩn thận và rõ ràng đến nỗi tôi khó có thể kìm nén được cơn rung của cơ thể mình.
Gary là một bác sĩ quân y dày dặn kinh nghiệm phục vụ cho một đơn vị tấn công đặc nhiệm đóng quân ở biên giới Lào. Đơn vị của anh đã bị ba trung đoàn Bắc Việt Nam tấn công vào đêm Cá tháng Tư (ngày 1 tháng 4). Đạn bắn trúng anh hai lần. Đôi chân mất cảm giác bởi một mảnh đạn găm vào người gần xương sống. Anh kéo lê người từ người lính này đến người lính khác, cố gắng làm cho máu của họ ngừng chảy, đến khi một viên đạn nữa xé toang bụng anh. Nhưng anh vẫn đi vào làn đạn, chăm sóc những người lính đến khi cơn đau làm anh bất tỉnh.
Sau đó, chúng tôi đi vào bên trong tòa nhà. Suốt nhiều tiếng đồng hồ, tôi quan sát khuôn mặt của những người cựu binh khác. Tôi lạc trong những khuôn mặt đó. Đứng ở trung tâm của tiếng động và giữa những lời nói dối đẹp đẽ và câu chuyện hùng hồn có thể được tha thứ đêm nay, tôi nghe một người, bằng giọng rõ ràng, nói với một người khác "Chào mừng bạn trở về nhà". Sau đó, một người khác nói câu đó, và sau đó người khác nữa. Sự hy vọng mà tôi nghĩ đã mất đi giờ đang quay trở lại. Tôi tưởng tượng rằng điều đang xảy ra ở đây sẽ tỏa về mọi hướng của đất nước tôi trong những tuần lễ tới, trong một làn sóng cảm thông, để chúng tôi lại có thể bắt đầu hiểu nhau. Tôi tin rằng chúng tôi cuối cùng cũng có thể nhìn vào mắt nhau và nói thẳng những điều cháy bỏng trong tâm can mình.
Chúng tôi đã không nhận ra rằng, chúng tôi đến đây để biến đài tưởng niệm làm bức tường than khóc cho riêng mình. Chúng tôi đến để tìm tên của những người mất đi trong chiến tranh, như thể lần tay theo mỗi cái tên được khắc sâu vào đá granit, chúng tôi có thể tìm thấy phần còn lại của chính chúng tôi. Hóa ra, sau bao nhiêu tranh cãi về thiết kế đài tưởng niệm, không cựu binh nào có thể quay lưng lại với vẻ đẹp khủng khiếp của bức tường do Maya Lin thiết kế, và tên của 57.939 người Mỹ đã chết hoặc mất tích trong chiến tranh Việt Nam từ tháng 7-1959 đến tháng 5-1975 - tội ác dài nhất và xấu xa nhất của nước Mỹ.
Gary Beikirch kể với tôi rằng, khi anh thấy bức tường lần đầu tiên, khi đọc lướt qua để tìm tên người quen, anh bỗng thấy mặt của chính mình phản chiếu trên mặt đá nhẵn bóng, để anh hiểu rằng, đây là đài tưởng niệm cho tất cả chúng tôi.
Sáng thứ bảy lạnh lẽo hôm nay, con số người diễu hành ít hơn số người đã chết hoặc bị thương trong suốt 16 năm đó. Cuộc diễu hành lặng lẽ và giản đơn; dường như nó trôi qua nhanh quá. Thật buồn, khi ước nguyện của những cựu binh đã chiến đấu ở Việt Nam thật giản đơn: được đón nhận trở về cuộc sống của gia đình và bạn bè, được dự cuộc diễu hành nho nhỏ tại quê nhà - một nghi lễ được thực hiện từ những cuộc chiến tranh cổ xưa, và là một sự dối trá cần thiết và thiết yếu.
Ít ai nghi ngờ rằng nỗi đau khổ do chiến tranh gây ra tại Việt Nam và Mỹ sẽ tiếp tục trong thời gian dài, trong khi những nhà cầm quyền đổ tội cho nhau. Nhưng khi gió lạnh thổi qua hồ nước phản chiếu ánh sáng đằng sau bức tường tưởng niệm cựu binh Mỹ do Maya Lin thiết kế, chúng tôi lại có thể ngẩng đầu; vì chúng tôi tin rằng cuối cùng chúng tôi đã được trở về nhà.
 
 
 
 
Nóng quá
Tặng Phan Thị Kim Phúc
 
 
Đ
 
ối với tôi, đôi tay của cô luôn trông như đôi cánh, cố gắng đập để giải thoát cô ra khỏi ngôi làng đang cháy, khỏi chính thân thể của cô. Nếu bạn có thể tin vào câu chuyện, câu chuyện sẽ tin vào bạn. Câu chuyện sẽ đón bạn vào trong chính thân thể của nó, để bạn có thể đứng cạnh cô bé đó trên Quốc lộ 1, để bạn có thể hít thở bầu không khí ác liệt mà cô đã phải thở. Không có cách nào khác để kể câu chuyện này. Khi Phan Thị Kim Phúc tiến gần một nhóm nhà báo và nhiếp ảnh gia đang tụ tập trên quốc lộ để quan sát những gì họ có thể nhìn thấy trong cuộc giao tranh giữa Quân đội miền Bắc cùng lực lượng kháng chiến với quân đội Nam Việt Nam tại một ngôi làng ở Trảng Bàng, cô đã liên tục hét lên "nóng quá, nóng quá".
Vào chiều ngày 8-6-1972, những chiếc máy bay chiến đấu Skyraider của không quân Nam Việt Nam đã thả những loạt bom khác nhau xuống mép ngôi làng, bao gồm cả bom na-pan. Bom na-pan có địa ngục của riêng nó, và địa ngục đó là một phần trong câu chuyện này. Chắc hẳn lúc đó Phan Thị Kim Phúc đang ở cùng gia đình của cô. Đó chắc hẳn là một ngày hè cô được nghỉ học. Cha mẹ cô có một quán ăn nhỏ gần tòa thánh Cao Đài. Mặc dù họ đã biết rằng phía miền Bắc đã tiến vào thị trấn (Kim Phúc chắc hẳn cũng biết), họ không quá sợ hãi, và không tin rằng cuộc sống của họ đang lâm vào hiểm nguy. Nếu bạn sống ở tỉnh Tây Ninh trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, chiến tranh là nền cảnh quan luôn ngự trị trong cuộc đời bạn. Tháng Sáu ở Tây Ninh, cái nóng phủ lên bạn một tấm chăn nặng nề không thể bóc ra khỏi người. Chắc hẳn lúc đó Kim Phúc đã thoát khỏi cái nóng, có lẽ đang ăn cơm cùng gia đình đông đúc của cô. Tôi biết điều đó bởi vì tôi có thể thấy cô ở nơi đó một cách dễ dàng, dễ dàng như thể nhắm mắt. Chắc hẳn cô đã cảm thấy đầu tiên sức nóng không thể chịu đựng nổi, mặc dù sau này Kim Phúc nói rằng cô đã thấy máy bay, thấy lửa và sau đó bị bỏng. Cô ấy đã giảm thiểu sự trải nghiệm của mình đến mức đó. Chạy cạnh cô ngày hôm đó, bên phải của cô là anh trai của cô, Phan Thanh Tâm, mười hai tuổi - người sau này bị mù một mắt bởi những vết thương gây ra bởi những quả bom thả xuống ngôi làng của họ ngày hôm đó. Đằng sau Kim Phúc, bên trái, là em trai 5 tuổi của cô, Phan Thanh Phước, và sau lưng Phước là hai người anh chị họ của Phúc: Hồ Văn Bơ, và Hồ Thị Tính. Kỳ diệu là cả ba đứa bé này đã thoát khỏi thương tật.
Để kể câu chuyện này đúng, bạn phải kể câu chuyện không ai muốn nghe. Bạn phải có bằng chứng của sự thật và sau đó quên chúng đi để rồi câu chuyện được phép tự kể về nó. Thời gian và khoảng cách địa lý không có nghĩa gì bởi vì câu chuyện này luôn luôn sống bên trong chúng ta, đằng sau đôi mắt đã nhắm lại của chúng ta. Khi Kim Phúc vừa vượt qua nhiếp ảnh gia - nhà báo Nick Út và những người khác đang đứng trên quốc lộ, cô ngừng chạy. Nick Út nghe cô nói với anh trai của mình rằng cô sẽ chết. Cô mới chín tuổi và thế giới xung quanh cô vừa bị nghiến nát để trở thành một sự lãng quên. Cô đã xé bỏ quần áo đang cháy trên người. Nick Út và nhà báo Christopher Wain của hãng ITN tưới nước từ bi đông của họ lên những vết bỏng của cô. Cánh tay cô nhấc lên hai bên mình vì chúng đã bị bỏng rất nặng, và chúng không giống như những đôi cánh, chúng không thể nâng cô thoát ra khỏi thể giới hãi hùng, thế giới thuộc về những đứa trẻ ngây thơ nay đã trở thành nạn nhân chiến tranh.
 
Nguyễn Phan Quế Mai
dịch và giới thiệu
 


[1] Bức tường Chiến tranh Việt Nam là đài tưởng niệm có hình một bức tường dài 75 m, cao 3 m, hình chữ V, bằng đá hoa cương đen. Khi được khánh thành, bức tường có tên của 57.939 chiến binh Mỹ đã thiệt mạng hoặc mất tích khi tham gia chiến tranh Việt Nam. Bức tường liên tục được bổ sung tên của những quân nhân mới được xác định thêm, và  hiện có tất cả 58.267 tên của các quân nhân nam nữ, trong số đó có khoảng 1.200 người nằm trong danh sách quân nhân mất tích. Bức tường nằm trong Khu tưởng niệm các Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam tại trung tâm thủ đô Washington D.C., được khánh thành ngày 13-9-1982.

Nguồn tin: TCNV 04-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn