15:40 ICT Thứ năm, 20/06/2013

Trang nhất » Tin Tức » Sáng tác

Mảnh sót lại của chiến tranh

Thứ tư - 04/04/2012 09:25
Mảnh sót lại của chiến tranh

Mảnh sót lại của chiến tranh

LÊ VĂN THẢO
 
 
Mảnh sót lại của chiến tranh
 
Truyện ngắn
 
 
Các chuyên gia quân sự ước tính phải 300 năm nữa mới gỡ hết bom mìn ở Việt Nam. Lâu vậy sao? Hay lâu hơn nữa? Chiến tranh mãi mãi không chấm dứt ở Việt Nam hay sao?
 

1
 
 
Năm 2008, sau 24 năm định cư ở Mỹ, Lai Trắng về thăm quê ở Việt Nam, nơi anh sanh ra lớn lên, đến năm 14 tuổi. Năm 1982 là năm anh ra đi.
Anh là con lai trong chiến tranh, đúng như tên gọi, lai trắng. Anh còn đứa em gái, cũng con lai, nhưng lai đen. Không máu mủ ruột thịt, dĩ nhiên. Cũng đặt tên đúng như tên gọi: Lai Đen. Một người đàn bà, hơi điên khùng một chút, nuôi hai anh em. Bà mẹ đã chết từ lâu.
Anh chỉ còn đứa em đó thôi, là mối thân thuộc, nỗi nhớ nhung khôn nguôi khiến anh trở về.
Anh chọn ngày về vào mùa mưa, mong thấy cánh đồng trước nhà ngập nước. Anh ở Việt Nam quãng thời gian ngắn ngủi, tuổi nhỏ không nhớ được gì nhiều, ký ức chỉ là những hình ảnh nhạt nhòa mông lung.
Nhưng những gì còn nhớ được lại rất sâu đậm.
Nhiều khi anh tự giễu mình: không có ký ức ta tạo ra ký ức, lấy hiện tại thay cho ký ức.
Hăm bốn năm là quá lâu, nhưng anh không ân hận. Chỉ riêng việc gặp lại Lai Đen, đứa em gái thân thương cũng khiến anh thấy vui đến nao lòng.
Anh xuống sân bay không người đón. Anh đã điện dặn Lai Đen, anh muốn tự mình tìm đường về, hai anh em gặp nhau tại ngôi nhà xưa.
Máy bay đáp xuống giữa đêm, sân bay vắng người. Anh nói rành rọt câu tiếng Việt đầu tiên ở phòng nhập cảnh khiến người hải quan ngạc nhiên ngước nhìn lên: ông Tây cao lớn này học tiếng Việt ở đâu, nói tiếng Việt không pha chút giọng Tây nào?
Anh không phải "ông Tây", anh muốn nói. Anh sanh ra lớn lên ở đây, học nói câu đầu tiên bằng tiếng Việt ở đây. Anh chỉ có chút "gốc Tây" thôi.
Anh về đến khách sạn trời gần sáng, điện báo Lai Đen đã về tới. Rồi tắm rửa, bảo nhân viên tiếp tân đặt chuyến tắc-xi về quê, ra ban-công ngắm thành phố về đêm. Anh chưa có chút ý niệm nào đang ở Việt Nam, quê hương nơi anh sanh đẻ chịu nhiều cơ cực. Từ từ thôi. Anh sẽ đi thăm thú nhiều nơi, có tấm bản đồ trong tay, đã hỏi sơ qua Lai Đen, còn lại giao cho người tắc-xi. Ký ức sẽ phục hồi dần, từng chút một, anh tự nhủ.
Ăn sáng ở khách sạn, ngồi uống cà phê chờ tắc-xi, anh báo khách sạn anh về quê địa chỉ đó, gởi lại bản phô tô hộ chiếu, cho số điện thoại Lai Đen, hết hạn visa điện báo dùm, cho tắc-xi xuống đón.
Tắc-xi tới anh đi ngay, xe ra khỏi thành phố trời vừa hửng nắng. Qua một con sông lớn, một vùng trồng cao su, nhiều ruộng lúa, hồ nước, tiếp nối sông rạch chằng chịt, ven sông ken dày lá dừa nước. Lai Trắng ngắm nhìn cảnh vật, chỉ nhớ mang máng, hoặc tưởng tượng ra thêm, theo những thông tin có từ bên Mỹ. Đứng trưa họ dừng lại ăn cơm quán bên đường, canh chua cá kho, những món anh còn nhớ. Rồi đi tiếp. Đường bắt đầu uốn lượn lên xuống, ruộng lúa chen lẫn rừng chồi. Tiếp nữa toàn rừng chồi, những trảng cỏ cằn cỗi. Trời xế chiều. Anh ước tính đã gần tới nhà, nói người tắc-xi thả anh xuống ở đầu làng. Xe cứ về, chừng cần anh gọi. Anh mang túi xách xuống xe đi bộ. Trời nắng xiên dài, đường làng vắng vẻ. Bắt đầu có đám con nít bu theo sau, kêu réo có ông Tây ba lô tụi bây ơi. Anh đáp không phải Tây, lai thôi. Là người làng này, đi xa lâu mới về, nói tiếng Việt không thua tụi bây. Đám con nít bu theo càng đông, như đoàn quân hộ tống, thông báo với anh mọi chuyện. Nhà bà Lai Đen gần đây thôi. Bà Lai Đen làm bà ngoại rồi. Con gái lớn mới đẻ, con bò nhà cũng đẻ. Đám con nít chạy trước dẫn đường. Lai Trắng đi đủng đỉnh theo sau, nói anh biết nhà rồi, nhà anh sao không biết? Anh đi xăm xăm nhìn ngang ngửa, bảo chỗ này có cây dừa quì, chỗ kia có ao nuôi cá. Thật ra chỉ có trong tưởng tượng, hăm bốn năm đã thay đổi hết rồi!
Đám trẻ dừng lại trước một cổng nhà, đứng giãn ra hai bên. Lai Trắng biết đã tới nơi. Anh đi thẳng vô, đám trẻ khép lại sau lưng. Anh nhận ra Lai Đen ngay, từ trong nhà đi ra, còn ai khác nữa. Nhưng cũng hơi chút ngỡ ngàng! Cô bé đen nhẻm, tóc quăn cao nhòng ngày xưa, giờ đã thành người đàn bà đẫy đà, tóc bới thành cục sau ót, bước đi chậm chạp nặng nề.
Lai Đen cũng nhận ra anh ngay, đứng lại ở cửa nheo mắt tươi cười vẫy tay. Anh bước mau tới đặt hai tay lên vai em gái, cười lớn:
"Ôi trời đất ơi, con nhỏ Lai Đen đây hả? Sao thành bà nào vầy nè?".
"Em già quá, xấu quá chớ gì?", Lai Đen cười nói trong nước mắt, úp mặt vô vai anh. "Anh đi bao lâu rồi biết không? Em làm bà ngoại rồi anh biết không?".
"Anh biết rồi".
"Anh biết cái gì? Nói đi! Không, anh không biết gì đâu!".
Hai anh em ôm nhau. Rồi Lai Đen lau nước mắt, dẫn Lai Trắng đi vào nhà giới thiệu từng người. Anh chồng hom hem già lão đứng kế sau. Đứa con gái lớn vừa mới sanh, con bồng trên tay đó. Thằng dựa cột là chồng nó. Thằng con trai đang đi học, chút nữa về tới.
Anh cười với mọi người, nắm tay người em rể:
"Tôi là anh trai Lai Đen đây dượng Ba à, anh em cùng mẹ khác cha".
Rồi day qua hai đứa cháu:
"Cậu Hai đây, mấy cháu coi hình nhận ra không? Giống má không? Giống làm sao được, một trắng một đen mà giống cái gì? Nhưng cùng một mẹ, như anh em ruột thịt...".
Anh đi quanh nhà, chưa nhận ra gì, cảm nhận được gì. Khác biết bao nhiêu so với tưởng tượng, quá nghèo nàn, đơn sơ bình dị. Nhưng anh thấy bình yên, thanh thản, từng thớ thịt nở ra đón ngọn gió mát lành.
Anh trở vô nhà ngồi xuống bàn giữa. Lai Đen kêu con rể leo hái dừa, con gái ra sau vườn hái cam quít. Đám con nít hàng xóm vẫn còn bu đầy. Một đứa nói: "Ông Tây ngộ quá!". Lai Đen nạt: "Tây cái gì? Cậu Hai nhà này, không phải Tây. Hồi nhỏ cậu Hai chăn trâu còn giỏi hơn tụi bây".
Hai anh em không có chuyện gì để nói nữa, chỉ nhìn nhau cười. Kỷ niệm ít ỏi, thời gian xa cách lại quá lâu. Hồi hai anh em cùng chung mái nhà, ngồi với nhau như thể này, chỉ là hai đứa trẻ, thế giới chung quanh là thế giới trẻ con. Giờ đã là hai người già.
Lai Đen dẫn anh đi một vòng quanh nhà, khoe cơ ngơi nhà cửa, có cảnh vật dễ gợi chuyện hơn. Đây là nền nhà cũ, đã qua ba bốn xác nhà xây mới rồi, giờ thành nhà ba gian hai chái rộng rãi, tự tay mấy mẹ con làm ra. Trâu bò có năm đôi, con bò cái mới đẻ. Hai công vườn phía sau trồng cam quít. Có ao nuôi cá, mương liếp trồng dừa. Thêm ba mẫu ruộng bên kia làng.
Anh gật gù nghe cô em nói, không để tâm mấy chuyện nhà cửa vườn tược. Anh nhìn ngắm cô em, cứ thấy tức cười. Người đàn bà da ngăm đen, cao lớn tóc quăn, không có dáng gì người Việt Nam, lại bận đồ bà ba đen, ăn nói đi đứng rặt người đàn bà Nam bộ, bươn chải tảo tần.
Hai anh em ra tới mí vườn, đứng nhìn cánh đồng trước mặt.
"Cánh đồng sao không thấy cày xới gì hết?", Lai Trắng hỏi.
"Cày xới cái gì? Anh đi lâu quá quên hết rồi hả?", Lai Đen đáp.
"Quên cái gì?".
"Bom mìn đầy ở dưới, cày xới làm sao? Chính quyền cũng gỡ nhiều rồi, nhưng đâu biết còn hay không".
Một lát rồi Lai Trắng hỏi tiếp:
"Cây vông đồng còn ngoài đó không?".
"Cây vông đồng nào?".
"Cây vông đồng gần ngôi mả đá ong, chỗ có gò đất...".
"Chuyện từ đời thuở nào, em có ra ngoài đó đâu mà biết".
Lai Đen kể: mới năm ngoái đây thôi, một người đi đặt trúm đạp nhằm trái mìn, may gặp mìn thúi mín lép gì đó không nổ. Cái đìa hồi nhỏ Lai Trắng lặn hụp, có người tát cá lượm được mấy trái M79, đìa bỏ hoang luôn từ đó.
Thật ra anh không quên. Năm 74, anh 6 tuổi, cũng biết chút đỉnh. Lính Mỹ có trận càn lớn đóng quân trên cánh đồng, sau hơn tháng rút đi gài mìn khắp nơi, người dân đi bẫy thú, tát cá đạp trúng mìn cụt chân gãy tay, trâu bò chết tan xác không ai dám ăn thịt. Năm 75 anh có chuyến đi Mỹ không thành, ở lại thêm 7 năm nữa, biết nhiều chuyện hơn. Đó là một "cánh đồng chết", đất đai cằn cỗi khó có cây gì mọc được, cây hoang cỏ dại um tùm. Không cày cấy nhưng có mìn phải gỡ. Chính quyền mới cho công binh xuống gỡ nhiều đợt, nói đã hết, nhưng đâu biết như thế nào.
Anh không quên, bởi đó là cánh đồng của anh. Cánh đồng như có ma lực thu hút anh, hồi ở nhà không ra đó anh không biết đi đâu.
Lai Trắng đứng nhìn mãi. Lai Đen nói sang chuyện khác:
"Em già xấu thật, hả anh?".
"Không, em chưa già lắm đâu. Chỉ những người đi xa mới già. Trước khi về anh lấy tất cả hình ra coi, hình bên này em gởi sang và hình anh chụp cùng bạn bè bên đó. Kết quả là những người bên Mỹ già hơn những người bên này".
"Ăn nhiều bơ sữa quá hay sao?".
"Không phải chuyện ăn uống. Như em nè, tại em cứ quanh năm quần áo bà ba đen, tóc bới thành cục. Em bỏ hết những thứ đó diện đầm vô coi...".
"Không, mắc mớ gì em phải bỏ".
Lai Đen vốn là cô gái đẹp, từ nhỏ đã ra dáng, da chỉ hơi ngăm đen, mắt mũi rõ nét, người cao dong dỏng, nét châu Phi kết hợp với mắt đen tóc đen châu Á. Cô thường xuyên gởi hình sang Mỹ, anh theo dõi cô em qua bao năm tháng.
Nhưng cũng già rồi, thành bà ngoại rồi, Lai Trắng cười buồn nghĩ bụng. Cô em gái xinh đẹp ngày nào giờ đã mập ra, bước đi chậm chạp, thêm bộ quần áo nâu sòng, tóc bới thành cục sau ót, quanh năm quần quật với ruộng vườn ao cá, còn chưng diện với ai.
"Thôi mà, anh buồn cái gì?", Lai Đen nói. "Anh cũng già, hăm bốn năm rồi. Nhưng em con cái nhà cửa đề huề, anh chỉ một thân một mình. Sao ở Mỹ anh không cưới vợ?".
"Vì anh là con lai".
"Sao con lai không cưới được vợ?".
"Vì anh ở Mỹ".
Lai Đen làm sao hiểu được? Hăm bốn năm ở Mỹ vẫn cứ thấy lạ lẫm. Người lạ không làm quen được, người quen ngày càng lạ đi. Không chỉ chuyện dòng máu, mà còn là nơi ở. Một nửa là người Mỹ, trở về Mỹ hơn hai mươi năm, anh vẫn nhớ về con sông cánh đồng ở Việt Nam, những bờ bụi nơi anh sanh ra lớn lên, nhớ đứa em gái cũng chỉ một nửa là người Việt.
Anh không thể giải thích điều đó, không thể nói thành lời.
Lai Đen vô nhà lo bữa ăn chiều, rau hái ngoài vườn, gà vịt nuôi trong chuồng. Lai Trắng đi tiếp coi vườn nhà, ra sau đám rẫy, theo mương dừa sang nhà bên cạnh. Một đám trẻ chơi đùa trên sân. Anh đi dọc theo đường làng, băng ra đồng. "Cánh đồng xưa" đây rồi, "sân chơi" suốt những năm tuổi nhỏ, những ngày lùng sục, bẫy chim, câu lươn, đào bắt chuột. Có một con rạch nhỏ chảy ngang qua đồng, không biết bắt đầu từ đâu, và chảy đi đâu. Tôm cá nhiều vô số kể, một mình anh mò bắt đủ cho nhà ăn cả ngày. Hết cánh đồng là triền dốc dẫn lên núi, chỉ thấy một vệt xanh mờ. Bên kia là xứ sở nào anh không biết, chưa từng nghe ai kể.
Anh bước những bước đầu tiên ra cánh đồng, theo con đường mòn nhỏ lẩn trong cỏ, lòng rộn ràng. Cảm giác xưa cũ đã đến với anh. Con dế, con rắn mối, ếch nhái, con rắn nước bò loằn ngoằn trong cỏ, là cả thế giới tuổi thơ, những kỷ niệm không thể nào quên.
Anh đi như người bị mộng du. Rải rác có những chòm mả đá ong. Khe nước đang đầy nước, anh như nhìn thấy cá lóc cá rô lội luồn dưới cỏ. Um tùm lau sậy chim cò làm ổ. Trời nghiêng xế, anh vẫn đi. Cây vông đồng kia rồi, cánh đồng nào cũng có, mọc đơn độc lẻ loi, cạnh gò mả đá cũng một mình một bóng, trong ánh nắng lung linh. Anh nhảy qua mương nước, đi vòng qua gò mả đá, bước lên một vùng đất ẩm ướt mọc đầy cỏ năn. Anh không nghe tiếng nổ, chỉ thấy mình bị hất tung lên, bay tới một nơi rất xa, không thể nào hiểu nổi...
Đám trẻ đang chơi trong sân nghe tiếng nổ, đứng dậy la toáng lên:
"Bom nổ! Bom nổ!... Ông Lai Trắng đang đi ra ngoài đó!... Chạy báo cho bà Lai Đen hay đi...".
 
 
2
 
Ta ngược về trước, khoảng đầu năm 1975.
Một ngày như mọi ngày. Sáng sớm bà mẹ điên bồng Lai Đen đi tìm việc làm, cột chân Lai Trắng vô gốc cột bằng sợi dây vải cho nó khỏi chạy đi lung tung, sợi dây đủ dài để nó có thể đi tới chiếc khạp múc nước uống, moi ăn củ khoai vùi dưới tro bếp.
Nhưng hôm đó người mẹ điên không tìm được việc làm, nắng lên một chút bồng Lai Đen trở về. Ba má con đói meo, nằm võng cười giỡn với nhau, tính chuyện đào khoai củ ngoài vườn ăn tạm.
Một chiếc xe du lịch chạy tới đậu trước cửa nhà, hai người đàn ông mở cửa xe bước ra, một người Việt, một người Mỹ. Tiếp theo sau chiếc xe Zeep chở tốp lính người Việt chạy tới đậu kế đó. Tốp lính ngồi lại trên xe giương súng tua tủa. Hai người đàn ông một Việt một Mỹ đi vô nhà, đứng lại ở cửa nhìn vô. Ba má con nhìn ra.
"Thằng lai đây phải không?", gã người Việt chỉ Lai Trắng, hỏi.
"Thằng lai thằng lai...", gã Mỹ bập bẹ nói theo.
"Đây là con tôi, không có thằng lai gì hết", người mẹ nói. "Còn một đứa nữa nè, lai đen".
Bà chìa Lai Đen ra. Lai Đen khóc. Gã người Việt nói:
"Đừng khóc! Chuyện tốt lành thôi! Thằng nhỏ này sắp được đi Mỹ".
"Đi Mỹ làm chi?", người mẹ hỏi.
"Con Mỹ phải về Mỹ", gã người Việt nói, cười rộng miệng. "Bà không muốn cho con đi Mỹ hả? Người ta đòi đi Mỹ rần rần, bà thật ngược đời. Có cái bàn nào cho tôi ngồi làm giấy tờ coi".
Nhà không có bàn. Người mẹ nói:
"Không, tôi không muốn con tôi đi Mỹ".
"Tại sao?".
"Nó là con tôi".
"Một nửa thôi, nửa kia là của Mỹ. Bà không thấy nó giống hệt Mỹ sao? Bà nuôi nó rồi, giờ tới chính phủ Mỹ nuôi. Mỹ sắp rút quân. Mỹ không bỏ con cái của mình bao giờ".
"Mấy ông bắt nó hả?".
"Không phải bắt, mà là hồi hương. Về Mỹ nó tìm được cha. Ở đây bà nuôi nó nổi không? Hay bà muốn đòi hỏi điều gì? Được thôi, chính phủ Mỹ rất sòng phẳng, có khoản tiền đền bù công lao nuôi dưỡng, theo đúng luật lệ...".
Vậy là xong. Theo đúng luật lệ. Có giấy tờ đầy đủ. Thằng nhỏ sẽ đi Mỹ theo diện con lai, tốp lính kia là những người áp giải, gã và người Mỹ đại diện cho hai chính quyền, thực thi công việc.
Bà mẹ nuôi không hiểu luật lệ gì cả, chỉ biết lờ mờ người ta bắt con bà đi. Bà hoảng sợ nhìn tốp lính đầy súng ống, mếu máo nói:
"Mấy ông bắt một đứa thôi hả?".
"Một đứa thôi, thằng con trai này nè", gã người Việt nói. "Con gái để sau".
Lai Trắng ra đi liền hôm đó, theo hai người đàn ông và tốp lính. Bà mẹ cầm xấp tiền trên tay đứng lơ láo. Lai Đen khóc, Lai Trắng cũng khóc. Nó bị rứt ra khỏi cuộc sống từ đó. Người ta đưa nó về một trại có nhiều đứa trẻ lai, lai trắng lai đen, hầu hết con trai. Con gái cũng có. Nhìn mấy đứa con gái lai đen nó nhớ em gái quá đỗi. Không biết ngày tháng trôi qua như thế nào. Đám trẻ chỉ có ăn ngủ, chơi đùa ngoài sân, cuối tuần xem phim Tarzan, Rambo, Người máy hủy diệt. Súng vẫn nổ, đạn pháo hú qua đầu. Chiến tranh nghe như gần lắm, không biết ở đâu, từ hướng nào. Đám trẻ bị đổi trại liên tục. Cho đến một hôm giữa khuya nghe súng nổ chát chúa sát bên, những người quản trại xốc đám trẻ dậy lùa lên xe. Xe chạy đi, đến một sân rộng trút hết xuống, cả đám trẻ đứng tụm năm tụm ba. Rồi lại bị dẫn đi, trời lạnh như cắt da. Bị lùa lên một cái gì đó lớn lắm, như chiếc ghe chài, hoặc một tòa nhà, sau này mới biết là máy bay xi-núc. Chiếc máy bay nổ máy ầm ầm, cất cánh bay lên...
Nhưng không lâu, chừng năm bảy phút, máy bay nghiêng đảo, rú rít, đám trẻ bị xô đẩy dồn lắc dữ dội, chạy tuột từ đầu này tới đầu kia. Rồi nghe tiếng "ầm" một cái như trời long đất lở, Lai Trắng như bị bốc cháy, tan ra từng mảnh, không biết gì nữa...
Chuyện tiếp theo sau này nó mới biết. Nó nằm trong bệnh viện, không ai nói cho biết gì, cũng không biết hỏi ai. Chỉ có bác sĩ khám bệnh, y tá chích thuốc, nói với nhau nó nghe loáng thoáng. Máy bay rớt, nó là đứa may mắn sống sót, không chết cũng không bị thương. Nhiều đứa khác đã chết.
Nhưng chấn động quá lớn khiến nó mất trí nhớ một thời gian. Không nhớ gì, đầu óc trống rỗng. Ra viện người ta đưa nó về trại cũ, vẫn không biết gì. Không biết chiến tranh đã qua, Mỹ rút quân, chính quyền cũ sụp đổ, chính quyền mới lên thay.
Trại con lai được chính quyền mới tiếp quản, người ta tìm được tông tích người mẹ điên đưa nó về nhà. Bà má khóc, Lai Đen cũng khóc. Nó nhìn hai người, ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra.
Ba mẹ con lại sống với nhau. Trí nhớ nó phục hồi dần, mau chóng, nhờ Lai Đen. Con nhỏ bi bô kể hết chuyện này tới chuyện khác, anh ơi anh ơi! Anh có nhớ em không? Con chó nhà mình nè! Hôm anh đi nó còn nhỏ xíu, vậy mà nó vẫn còn nhớ anh, sủa mừng anh từ xa.
Cánh đồng cũng giúp nó phục hồi trí nhớ. Nó đi ra đồng, nhớ ra bờ đất, bụi cỏ, con mương, lạch nước, luồng bẫy chỉ còn dấu vết mờ mờ. Nó bắt đầu nói chuyện, từng tiếng một, những sự vật đơn giản thân thuộc, cái nhà, cây cột, cái ngạch cửa, nhắc lại chuyện hôm qua, hôm kia.
Nhưng có chuyện nó quên luôn, như cú rơi kinh hoàng của chiếc máy bay. Không một lần nó nhắc lại. Như không hề có chuyến bay đó.
Chính quyền mới lập lại trật tự, hệ thống làng xã giấy tờ sưu tra chặt chẽ. Trường hợp ba mẹ con bà điên cần phải được bàn bạc. Điên khùng như vậy nuôi con làm sao? Nhà như cái chòi giữ vịt, ở cheo leo cuối làng, không nghề nghiệp thân nhân lý lịch, làng xã làm sao quản? Hai đứa con nuôi lai trắng lai đen, tàn dư của cuộc viễn chinh Mỹ, hay ho gì phô trương ra? Xã cử người đến thuyết phục bà má nuôi, nói nhiều về "quyền và nghĩa vụ", "cá nhân và tập thể", bà trố mắt nghe không hiểu gì. Người cán bộ nói tiếp đến chuyện hai đứa con nuôi. Rằng con cái là của cha mẹ, cũng là của xã hội. Bà chỉ là má nuôi, phần thân nhân rất ít, huyết thống là không có. Xã không có trại mồ côi, huyện cũng không có. Nhưng có nhà chùa từ thiện nhận nuôi trẻ mồ côi. Nhà chùa cũng là của nhân dân, bà nên gởi hai đứa con vô đó. Người mẹ trố mắt nhìn không hiểu gì. Người cán bộ cười nói vậy là bà chịu rồi, Việt Minh làm thinh là đồng ý. Bà nói ú ớ mấy tiếng không ai nghe. Nhưng trong sâu thẳm bà hiểu rất rõ, bà bị mất con lần nữa. Lần này mất luôn, không phải một đứa mà hai đứa.
Nhưng phải mấy năm sau xã mới thu xếp xong với nhà chùa, đưa hai đứa nhỏ vô trại mồ côi, cũng trong xã thôi, bà mẹ có thể đến thăm bất cứ lúc nào. Bà đến thăm hai đứa nhỏ gần như hằng ngày, rảnh rỗi ghé tạt ngang coi chúng ăn ngủ chơi đùa thế nào. Rồi một hôm người nhà chùa thấy buổi chiều bà mang chăn chiếu đến trải ngủ ngoài hành lang. Chiều hôm sau lại đến. Chiều hôm sau nữa cũng vậy. Họ biết bà ở ngủ luôn, không thể nào đuổi được, thu xếp cho bà việc làm, quét tước dọn dẹp khuôn viên nhà chùa, tắm rửa giặt giũ cho đám trẻ, trong đó có hai đứa con của bà.
Vậy có khác gì bà vẫn nuôi con, còn được cả khuôn viên nhà chùa rộng rãi cho hai đứa nhỏ chạy chơi.
Trại mồ côi không hẳn của nhà chùa. Trước năm 75, một nhà thầu khoán giàu có chế độ cũ, có chuyện trục trặc gì đó với lương tâm, đã tài trợ chùa lập trại mồ côi, chọn xã này là quê người vợ đầu của ông. Hôm 30-4 ông thầu khoán dông qua Mỹ, cùng hai bà vợ, việc tài trợ chấm dứt. Trại mồ côi gặp khó khăn về tài chính, nhà chùa chọn số lớn tuổi cho đi tìm việc làm, số còn lại chưa biết tính sao. Giờ thêm hai đứa này nữa, con lai "tai nạn chiến tranh", hoàn cảnh thật đáng thương, chính quyền giao không thể không nhận.
Bảy năm trôi qua. Năm 1982. Lai Trắng 14 tuổi, cao lớn bằng người Việt trưởng thành. Lai Đen 12, cao dong dỏng, da chỉ hơi ngăm đen, tóc quăn, mắt đen, hứa hẹn một cô gái đẹp. Một buổi sáng có người đàn ông đứng tuổi tới thăm chùa, đề nghị được gặp vị sư trụ trì. Đó là ông thầu khoán năm xưa. Vị sư trụ trì mừng rỡ, đang hạn hán gặp cơn mưa, bọn trẻ đang ăn bo bo độn khoai mì, mặt mày chao dao thắc thỏm. Ông thầu khoán nói ông không phải cơn mưa, hạn hán thì đúng hơn. Ông qua Mỹ không hay ho gì, vợ con chết hết trên biển. Qua được tới Mỹ cũng thân tàn ma dại, có việc làm sống đắp đổi là may rồi. Nhưng ông sống một mình cô đơn không chịu nổi, về đây tìm xin đứa con nuôi, hai cha con sống hủ hỉ với nhau. Vị sư trụ trì nói vậy thì hay quá, trẻ mồ côi thiếu gì, của ông hồi xưa đó ông nhận đi. Rồi vị sư trụ trì giới thiệu hai đứa lai trắng lai đen vừa mới gởi tới, thằng lai trắng đi Mỹ một lần rồi, bị rớt máy bay điên khùng một dạo, giấy tờ chắc còn đâu đó, ông chọn nó có khi tiện hơn.
Ông thầu khoán chọn Lai Trắng, không cần nhìn mặt, nhờ vị sư trụ trì giới thiệu với chính quyền và bà má nuôi, chuyện chắc cũng không dễ dàng gì.
Bà má nuôi vẫn ở trong chùa, nhưng dạo sau này đi về thất thường, do việc chăm sóc hai đứa con không còn cần thiết nữa. Chúng đã lớn, có thể tự tắm giặt, việc ăn uống có nhà chùa lo. Bà trở lại cuộc sống lang thang, tìm việc làm để có cái ăn, cũng để được đi đây đó. Bà đã thôi hát hò nói năng lảm nhảm, trở nên lặng lẽ, gần như không nói chuyện. Bà đi khắp làng, qua tới làng bên, làm việc không lấy tiền, ai đưa tiền bà đều lấy, nhưng để lại nhà kế tiếp. Bà đi lang thang vô định, không mục đích, không tính trước, giả như có ai hỏi bà đang ở đâu bà cũng không biết. Bà như quên mất hai đứa con. Nhưng bỗng nhiên có ai nhắc tới, bà ngẩng lên sực nhớ, hối hả trở về chùa, chạy khắp khuôn viên kêu réo vang vang: "Lai Trắng ơi! Lai Đen ơi!", như mèo mẹ tìm mèo con.
Ông thầu khoán tìm gặp bà không khó, nhưng nói chuyện với bà không dễ. Bà ngồi ôm chặt hai đứa con, trố mắt nhìn ông thầu khoán với vẻ nghi ngại. Bà bị bắt con hai lần rồi. Lai Trắng bị rớt máy bay xuýt chết. Một người mẹ không thể nào chịu nổi những chuyện như vậy. Ông thầu khoán đã nghe kể mọi chuyện, cố gắng nói năng thật từ tốn. Ông nói ông sẽ đưa thằng nhỏ đi Mỹ, một người không thể rớt máy bay hai lần. Ông sẽ bảo đảm đời sống của nó ở bên Mỹ, không giàu có gì, nhưng không phải đói. Nó sẽ được đi học, may ra tìm được cha, mọi chuyện sẽ khá hơn. Nó đi Mỹ một lần không thành, giờ coi như đi tiếp chuyến bay. Bà im lặng lắng nghe. Ông nói tiếp, cố gắng thật lòng. Rằng cái chính là ông cần đứa con. Chuyến đi Mỹ năm xưa của ông nặng nề hơn chuyện rớt máy bay của thằng nhỏ nhiều, hay ít ra cũng bằng như vậy. Vợ con ông chết hết trên biển. Giờ ông chỉ còn một thân một mình. Bà nuôi thằng nhỏ rồi giờ để ông nuôi tiếp, hai cha con hai nạn nhân sống nương tựa vào nhau. Ông nói vậy là đã nói hết lòng, không biết từ lúc nào ông thấy mình chảy nước mắt khóc.
Bà mẹ không hiểu chuyện ở Mỹ hay ở đâu khác. Nhưng tấm lòng thì bà hiểu. Từ lúc nào, ông thầu khoán thấy bàn tay bà trên vai Lai Trắng buông lỏng dần. Bà khẽ đẩy đứa nhỏ về phía ông.
Chuyện dễ không ngờ, nhưng với nhà nước khó hơn. Hồ sơ chuyến bay của Lai Trắng còn đâu đó, nhưng ngập trong mớ công văn giấy tờ về giá lương tiền, khoán sản phẩm. Cần phải tìm hiểu tường tận, theo thông lệ hành chính, không chỉ chuyện đứa nhỏ mà còn chuyện người lớn, người xin nó làm con nuôi. Ông thầu khoán là người như thế nào? Xin con nuôi với mục đích gì? Buổi trò chuyện biến thành buổi hỏi cung.
"Ông là Việt kiều?", người cán bộ xã hỏi.
"Dạ phải".
"Ông vượt biên?".
"Dạ, đi làm ăn thôi".
"Đề nghị ông trả lời đúng câu hỏi".
"Dạ phải, tôi vượt biên. Qua Mỹ không thể không qua biên giới...".
"Chuyện đó thì chúng tôi không hỏi".
Ông nghĩ bụng, đứa nhỏ đi Mỹ chớ đâu phải ông. Ông đã ở nước ngoài rồi, quốc tịch Mỹ. Đứa nhỏ cũng đã đi một lần rồi, năm 75, chuyến đi không thành. Máy bay rớt. Giờ coi như đi tiếp chuyến bay. Nhưng ông không thể nói tất cả những điều đó. Tốt nhất làm thinh, hỏi gì đáp nấy. Ráng chịu đựng để có được đứa con. Nghĩ đến cảnh về Mỹ sống một mình càng tệ hại hơn.
Mọi chuyện rồi cũng xong. Sau mấy tháng trời, cố gắng của cả hai phía. Trong lúc chờ giấy tờ ông đem Lai Trắng về thành phố, cho nó quen dần với cuộc sống mới. Trước hôm ra đi, ông lại đưa Lai Trắng về chùa, cho mấy má con chia tay nhau. Lai Đen khóc, Lai Trắng cũng khóc. Ông thấy cần phải nói đôi điều tốt lành. Ông nói về Mỹ thu xếp xong chuyện ăn ở của Lai Trắng, có thể trở về rước tiếp Lai Đen. Nhưng Lai Đen nói:
"Cháu không đi!".
Chuyến đi Mỹ bay vào giữa khuya. Suốt mười mấy tiếng đồng hồ vượt Thái Bình Dương, Lai Trắng không hé miệng nói một lời, ngồi cứng ngắc trong khoang ghế, chỉ động đậy khi uống nước, đi toa-lét, ăn rất ít.
Ở Mỹ ông thầu khoán không giàu, không thể vừa nuôi trẻ vừa đi làm. Vả chăng còn vấn đề qui chế. Ông bắt buộc phải gởi Lai Trắng vào trường nội trú, thỉnh thoảng đến thăm nom chăm sóc, không thể "cha con sống hủ hỉ với nhau" như ông mong muốn. Ở Mỹ như vậy là quí rồi.
Có một trường dành riêng cho con lai người Việt, không bảng hiệu, của một tổ chức phi chính phủ, thực chất từ nguồn tiền bí mật của nhà nước. Chính phủ Mỹ không tiếc tiền cho trẻ lai trong chiến tranh Việt Nam. Trường học có chương trình thu ngắn đặc biệt, chủ yếu cho đứa nhỏ có được một nghề sau khi ra trường, thành người Mỹ bình thường, sống chan hòa với mọi người, không còn ai biết gốc tích lai lịch gì nữa. Cuộc chiến vừa qua cần phải giấu đi.
Ông thầu khoán gởi Lai Trắng vào trường đó, thủ tục đơn giản, đóng ít tiền tượng trưng. Hằng tuần đến thăm, đưa đi ăn, đi chơi công viên. Lai Trắng là một đứa trẻ ngoan, không quậy phá đòi hỏi gì. Nhưng việc học hành không như mong muốn. Nó cao lớn dềnh dàng như người Mỹ, nhưng không học được tiếng Mỹ. Như vậy ra trường giao tiếp, làm việc ra sao?
Họ ở một bang có đông người Việt, phần đông sang tháng 4-75, sinh sống làm ăn với nhau. Ở trường Lai Trắng ít khi ra ngoài, nói năng khó khăn, không quen ai, chương trình học dày đặc. Thỉnh thoảng cần mua sắm nó đến cửa hàng người Việt, hàng tự chọn cứ lấy hàng trả tiền. Đôi khi phải nói câu gì đó, con nhỏ bán hàng trố mắt nhìn, nó cười cười vội vàng trả tiền ôm bọc đồ đi ra mau.
Bên này bên kia nó đều là người lạ. Vậy nó là người ở đâu?
Ở trường nó cố tình tìm quen con nhỏ lai đen, trò chuyện để đỡ nhớ em gái. Nhưng con nhỏ qua Mỹ sớm, quên hết tiếng Việt. Tiếng Mỹ của nó cũng chỉ bập bẹ. Thành ra một thời gian dài hai đứa chỉ ra dấu chỉ trỏ là chính. Sau đó con nhỏ biến mất, chắc ai đó đã xin nuôi, hoặc nó tìm được cha.
Ở Mỹ sau năm 75 có tổ chức chuyên tìm cha cho con lai trong chiến tranh Việt Nam. Lúc mới sang Mỹ ông thầu khoán đăng ký ngay cho Lai Trắng, tuy biết rất khó. Thông tin về nó quá ít, gần như số không.
Giữa khóa học có người Mỹ gọi đến. Ông thầu khoán không cho địa chỉ nhà, chỉ cho số điện thoại riêng của ông, cốt tránh cho Lai Trắng khỏi bị xáo động. Ông hẹn gặp người Mỹ ở một quán cà phê, dẫn người Mỹ đến trường nhìn Lai Trắng từ xa, thằng nhỏ đang chơi trong sân trường. Người Mỹ cao lòng khòng, không mở miệng, mặt mày lầm lỳ nhầu nhĩ, dấu vết chiến tranh vẫn còn ám đầy trên người. Ông ta nhìn Lai Trắng hồi lâu rồi quay đi, không chào từ giã, biến mất không thấy trở lại.
Lai Trắng lớn lên thành một thanh niên cường tráng, cao lớn vạm vỡ, ngang bằng bất cứ người Mỹ nào. Nét phương Đông chỉ còn lại ở đôi mắt đen và tính dịu dàng nhút nhát.
Đã quá tuổi dậy thì không thấy Lai Trắng có bạn gái. Do vụng về nhút nhát, không biết cách giao tiếp? Con gái ở trường cũng có, ngoài đường các quán tiệm rất nhiều, nhưng làm sao để làm quen? Nó sống quá lặng lẽ, đầu óc lúc nào cũng vương vấn chuyện gì ở đâu đâu.
Nó học ngành tiện thủy lực, ra trường được cấp bằng loại khá, người ta muốn như vậy. Buổi lễ không kèn trống, cố gắng làm nhanh gọn, không quay phim chụp hình. Ông thầu khoán đón nó về nhà, một thời gian dài chưa biết đưa đi đâu, làm việc gì. Nó nói tiếng Mỹ ọ ẹ như vậy đứng máy làm sao?
Lai Trắng sống ở nhà cả năm bảy năm trời, không làm gì, trên căn hộ tầng hai mươi lăm, thỉnh thoảng ra đứng ở hàng hiên nhìn xuống đường, xe chạy trên xa lộ thành vệt dài, người đi hai bên đường lấm tấm như hai hàng kiến.
Nhiều năm ông thầu khoán sống độc thân, giờ có con nuôi cũng không vui gì. Lai Trắng ngại giao tiếp với người Mỹ, tránh nói chuyện với người Việt, thậm chí ngại nói chuyện với cả chính ông. Ông thương nó, dành mọi tình cảm cho nó. Còn nó thương ai có trời mà biết. Ông nghĩ nó nhớ bà má nuôi, nhớ Lai Đen, nhớ đám trẻ mồ côi, các vị sư sãi trong chùa. Như vậy thì làm sao? Trả nó về hay sao?
Một bữa nó đi cửa hàng về nói:
"Con có việc làm rồi".
"Việc gì?".
"Dạy tiếng Việt cho mấy con nhỏ ở cửa hàng".
"Mấy con nhỏ người Mỹ hả?".
"Không, mấy con nhỏ người Việt".
Có một thực tế là nhiều người Việt trẻ tuổi ở Mỹ không biết tiếng Việt. Con cái sinh ra ở Mỹ, cha mẹ đi làm suốt ngày, gởi nhà trẻ, học tiểu học trung học đại học đều là trường Mỹ, nói tiếng Mỹ. Học tiếng Việt lúc nào?
Nghe nó có việc làm ông cũng mừng. Nhưng cũng thấy rầu lòng. Việc dạy học dính dáng gì tới nghề tiện của nó? Mặt mày tướng tá nó rặt Mỹ, dạy tiếng Việt ai tin? Nhưng có việc làm là quí rồi. Suốt nhiều năm nó dạy học kiểu gì ông không biết, không một lần đến cửa hàng chỗ nó dạy. Căn hộ như nhà trọ, hai cha con đi sớm về khuya, thức ăn nhanh trong tủ lạnh mặc ai nấy nấu ăn, có khi cả tuần không một lần ngồi với nhau.
Đành vậy thôi, ông còn mong gì được nữa? Nước Mỹ máu thịt của nó nó còn quay lưng, huống chi ông.
Lại một người Mỹ nữa đến tìm con. Gã này nhỏ thó loắt choắt, vui vẻ quá mức, cười nói luôn miệng, muốn gặp ông thầu khoán ở một quán ăn. Ông chọn một quán ăn Việt Nam, dẫn theo Lai Trắng, nói với nó ông quen gã Mỹ từ hồi ở Việt Nam. Gã Mỹ ăn nhiều như chưa từng được ăn, ngốn bánh mì thịt nguội, uống từng vại bia lớn, dĩa chả giò mình gã ăn hết, ăn thêm một tô bún thịt nướng, không một lần nhìn Lai Trắng. Ăn xong chùi miệng móc túi lấy mấy tờ bạc lẻ đặt lên bàn, nói góp phần tiền ăn.
Ông thầu khoán nói:
"Để tôi trả. Tôi mời. Nhưng chuyện tìm con của ông là như thế nào?".
"Tôi không có con".
"Vậy ông gặp tôi làm chi?".
"Để hỏi chuyện viết bài báo. Trường hợp thằng nhỏ này là như thế nào?".
Hóa ra là một thằng nhà báo chết đói. Mất toi bữa ăn. Đúng ra hai bữa, thằng mắc dịch ăn bằng hai người khác. Ông thầu khoán dẫn Lai Trắng ra về, hôm sau đến xóa tên Lai Trắng chỗ công ty môi giới tìm cha cho trẻ lai. Hai cha con sống với nhau thôi.
Hồi nhỏ ở nhà, má bồng Lai Đen đi làm, cột chân Lai Trắng vô gốc cột, có ông già như người ăn xin thường ghé qua nhà cho Lai Trắng uống nước ăn bánh. Một bữa Lai Trắng đang dạy học ông ta đi ngang, vẫn bộ dạng tơi tả, đứng lại ở cửa sổ nhìn vô nói: "Ôi thằng lai bị cột chân nè! Mày lớn quá rồi. Mày sang Mỹ hồi nào vậy?".
Đáng lẽ Lai Trắng ngạc nhiên mới phải: ông ta sang Mỹ bằng cách gì? Nhưng đang chán nói chuyện Lai Trắng không buồn hỏi, mặc kệ cả việc ông ta xin ngủ lại. Đêm hôm đó ông ta kể một câu chuyện dài về người mẹ của Lai Trắng, sáng hôm sau ra đi sớm, không thấy quay trở lại.
Từ lâu, ông thầu khoán bị bệnh mất ngủ. Nhiều đêm giữa khuya Lai Trắng thức dậy sang phòng bếp uống nước, đi ngang phòng cha nuôi thấy đèn sáng, ngó qua lỗ khóa thấy ông ngồi xếp bằng trên giường, mở mắt thao láo nhìn vô vách tường trước mặt, không biết khấn vái cái gì.
Không ít người bị bệnh mất ngủ. Nhưng với ông thầu khoán là một thảm kịch: nhiều năm ở Mỹ ông làm quần quật, để kiếm tiền và cũng để quên đi chuyện vợ con chết trên biển. Đêm không ngủ được, ông nghĩ chuyện gì khác ngoài chuyện đó?
Lai Trắng hiểu nỗi khổ đó của người cha nuôi, nhưng đâu giúp gì được. Ông thầu khoán nói: "Con cũng như ba thôi. Ba bị bệnh mất ngủ, con bị bệnh mất hồn".
Bệnh trạng ông thầu khoán ngày càng trầm trọng, nếu không nói là tuyệt vọng. Vô nằm bệnh viện, điều trị tốn tiền không biết bao nhiêu, vẫn không khá hơn. Có một nghịch lý trong bệnh mất ngủ: không ngủ được, nghĩ ngợi nhiều lại thêm mất ngủ. Không ngủ thì không ăn. Ông ngày càng ốm, đi đứng lao chao, nhưng vẫn tỉnh táo.
Ông biết mình sắp chết. Ông dặn dò Lai Trắng mọi việc, tiền trả góp căn nhà, đồ đạc, tài khoản trong ngân hàng... Như người đi xa dặn người đi xa. Ông để lại món tiền kha khá, Lai Trắng sẽ không thiếu thốn, tần tiện làm thêm có thể sống hết đời.
"Chỉ tiếc ba đưa con sang đây", ông nói. "Rốt rồi ba không được an ủi, con càng buồn thêm. Hai người không gắn bó được với cuộc sống Mỹ, thì làm sao gắn bó được với nhau?".
Đó là câu cuối cùng. Ông đòi uống tách nước trà nóng, nằm xuống nhắm mắt, không mở ra nữa.
 
 
3
 
Ta trở về những năm trước đó nữa. Khoảng cuối những năm 60, chiến tranh lên cao trào, súng nổ khắp nơi, vô tận trong các thành phố lớn. Bà điên không màng tới chiến tranh bom đạn, vẫn đi lang thang, đi khắp làng qua tới làng bên, tìm việc làm để kiếm cái ăn mua đồ đạc, cũng để ngao du. Thật ra bà cũng không đến nỗi điên khùng gì, chỉ nói năng lảm nhảm hát hò vô cớ. Gia đình không còn ai. Nghe nói có bà chị dâu ở làng bên nhưng không thấy ghé thăm. Bà ở một mình nhà cuối làng, làm bất cứ chuyện gì mọi người thuê mướn, cả chuyện của đàn ông như đào mương bửa củi. Bà làm ở làng nhà rồi qua làng bên, năm ba bữa về nhà một lần. Nhiều khi đến trước cửa nhà đứng nhìn vô, thấy nhà trống trơn lại ra đi.
Một bữa thấy bà mang về không phải món đồ, mà là một đứa nhỏ còn đỏ hỏn. Con trai, lai trắng, không biết ai cho, hoặc lượm ở đâu, hỏi không nói. Chấp gì mụ điên.
Từ ngày có đứa con bà không đi làm xa, loanh quanh trong làng để có thể tha thằng nhỏ theo, tối về nổi lửa nấu nướng hát à ơi suốt đêm. Thời buổi chiến tranh, hơn nửa triệu quân Mỹ rải khắp xóm làng, con lai sinh ra không thiếu gì, đẻ rớt ngoài đường, trong ruộng lúa, đi ngoài đường thấy đứa con lai không ai lấy làm ngạc nhiên. Mấy bà thôi không hỏi chuyện gốc tích đứa nhỏ, có dịp đi ngang ghé vô khen đứa nhỏ xổ sữa dễ nuôi, ăn gì cũng được, tóc đỏ da trắng toàn ăn rau muống luộc với cá kho. Rồi lại khen nhà cửa sạch sẽ ngăn nắp hơn, đàn bà có con có khác. Bà điên đặt tên con là Lai Trắng, như không phải tên, gọi sao đặt tên vậy. Lai Trắng lớn phổng lên, hai tuổi bằng đứa bốn tuổi, ba tuổi đá banh với đám chăn trâu ngoài đồng. Mọi người chưa hết ngạc nhiên lại thấy mụ tha về một đứa nữa, con gái, lai đen, cũng đặt tên theo kiểu "gọi sao đặt tên vậy": Lai Đen. Lai Trắng ở nhà nhường cho Lai Đen theo mẹ. Buổi sáng bà cột chân Lai Trắng vô gốc cột để nó khỏi chạy lung tung, sợi dây dài để nó có thể đến bếp uống nước, moi ăn củ khoai vùi trong tro bếp. Nó là đứa nhỏ ngoan, không tự tháo dây, sợi dây chỉ là tượng trưng. Nó kéo căng sợi dây đứng ngóng ra cánh đồng hoang rộng mênh mông trước nhà, trải dài tới tận triền núi, bên kia là xứ sở nào nó không biết. Cánh đồng hút hồn nó. Nó chưa từng ra đó, má không cho. Nó háo hức muốn tìm hiểu, hỏi thăm người hàng xóm, người đi đường, cánh đồng như thế nào, có gì ngoài đó. Nó hình dung cánh đồng trong trí nhớ, con đường mòn lẩn dưới cỏ, các khe lạch, gò nổng, những mả đá ong, những bờ đất, cây vông đồng mọc trơ trọi trên gò cao. Rồi ngày nào nó sẽ ra đó, chơi đùa kiếm cái ăn, lặn bắt cá dưới các mương rạch, mò tôm dưới ao, chạy đuổi theo những con kỳ đà trong các lùm bụi. Những người đi lên núi bẫy thú, đào củ sâm, ghé vô nhà xin nước uống, hỏi nó sao bị cột chân. Nó lắc đầu không đáp. Họ phiền muộn bỏ đi, để lại cho nó củ khoai trái chuối.
Buổi chiều trời tắt nắng má bồng Lai Đen về với túm gạo, giỏ khoai lang khoai mì. Đôi khi có được con khô con mắm. Má nấu cơm, nó chơi với Lai Đen. Ăn xong má bồng Lai Đen lên võng nằm hát à ơi. Lai Đen ngủ, má cũng ngủ theo. Lai Trắng ngủ kế đó, dưới võng, khoanh tròn trên tấm đệm rách như con chó con.
Nửa đêm má kêu trong mơ "má ơi" như bị nghẹn họng, giấc mơ chắc là khủng khiếp lắm. Sáng ra không khi nào má kể lại giấc mơ đó, không nhớ hoặc không muốn kể.
Có đám trẻ đi hoang, suốt ngày đi khắp làng hái trộm trái cây, chọc chó sủa. Chúng bẻ nhánh cây chọc vô đít Lai Trắng la lên: "Thằng Mỹ lai! Thằng Mỹ lai!". Lai Trắng bị vướng sợi dây lồng lộn kêu rống lên, đám trẻ hoảng sợ bỏ chạy la hét rí ré, tiếng vang vang tận cuối làng.
Có một ông già mang chiếc bị bàng thường ghé chơi, rề rà không chịu đi, hỏi Lai Trắng sao bị cột chân, lôi trong bị bàng ra đủ thứ đồ ăn, khoai củ, thịt khô cá khô, kêu Lai Trắng nổi lửa lên hai lò bếp. Khoai vùi dưới tro, lửa cháy đượm than nướng khô nướng bắp. Hai người ngồi chồm hỗm ăn khoai ăn khô, nhai rau ráu rau dại hái ngoài bờ rào, uống ừng ực từng gáo nước mưa. Ông già kể đủ thứ chuyện, như lôi đồ ăn từ trong bị bàng ra: chuyện đám cưới đám ma, đàn bà đẻ sinh đôi, hai con trâu cổ chém lộn hai sừng dính vào nhau ba ngày gỡ không ra...
Ông rất thích kể chuyện ma. Nhiều nhất là ma lính. Đất nước chiến tranh, làng xã nào cũng là chiến trận, lính chết chôn tại chỗ không mồ mả, những linh hồn không thờ cúng lang thang vất vưởng. Ma nữ cũng không ít. Một đám con gái đi cấy lúa bị lính xả súng bắn, nói là du kích giả trang. Một ghe chở đầy các bà các cô đi lễ chùa, ra giữa sông lớn bị trúng thủy lôi nổ tan xác không thể chôn cất. Nhiều cô gái bị kêu lên đồn không thấy trở về, không biết chết như thế nào, xương cốt chôn vùi ở đâu.
Ông kể với giọng không vui không buồn. Rồi ra đi. Đó là ông già sau này Lai Trắng gặp lại ở Mỹ.
Hôm đó sau khi ăn khoai nướng, kể nhiều chuyện ma, ông bị bàng nói ông có biết bà mẹ điên của hai đứa.
"Sao ông biết?", Lai Trắng hỏi.
"Tao biết, vậy thôi", ông đáp. "Má mày thường nằm chiêm bao kêu "má ơi" như bị chẹn họng. Có đúng như vậy không?".
"Đúng".
"Ở trên núi có loài ó Mã Lai cũng kêu y như vậy. Hương hồn má mày đã nhập vô con ó đó".
"Má tôi chết rồi hả? Ông nói bậy quá đi!".
"Má mày không chết mà cũng như chết. Sống vật vờ, chịu nhiều tủi cực, phải nuôi hai đứa con lai chúng mày... Không ai biết chuyện má mày bằng tao đâu".
"Ông biết chuyện gì?".
"Nhiều chuyện lắm. Tao sẽ kể, nhưng mày lớn lên đã. Hãy thương má mày con à!".
Một bữa khác ông nói:
"Má mày không điên khùng gì đâu, khổ cực quá đâm nói năng lảm nhảm vậy thôi".
Một bữa khác nữa:
"Người khổ cực già trước tuổi. Như tao đây trông như ông già tám mươi, thật ra tao chưa được nửa tuổi đó. Má mày cũng vậy, đã già lão gì đâu. Vậy mà lưng đã còng sát đất".
Một lần ông nói câu thật khó hiểu:
"Má mày từ đứa trẻ thành bà già, chưa từng sống qua thời con gái".
Ông nói ông đi nhiều nên biết nhiều. Ông thường xuyên có những chuyến lên núi năm ba ngày, ở trên cao cho gần với những hồn ma, nghe nhiều chuyện không ai nghe được.
"Ông nghe được ma nói chuyện hả?", Lai Trắng hỏi.
"Tao cũng là hồn ma vất vưởng". Ông đáp. Rồi nói sang chuyện khác: "Mày ra ngoài đồng chưa?".
"Chưa. Cháu bị cột chân".
"Biết rồi. Chừng nào tháo dây mày ra đó coi. Mấy mươi năm chiến tranh, người chết nhiều hơn người sống, thịt da rã ra xương cốt đầy dưới ao đầm".
"Ông kể chuyện trên núi đi", nó nói. "Ông gặp người quen trên núi không?".
"Tao nói rồi, tao chỉ gặp hồn ma, không gặp người", ông nói. "Hồn ma không lạ không quen. Mày đi với tao không?".
"Cháu sợ ma lắm".
"Biết sợ là điều tốt. Nhưng không sợ mới là điều hay".
Ông có kiểu nói lấp lửng như vậy, không hiểu ra sao. Buổi chiều má về bỏ Lai Đen xuống, ôm lấy Lai Trắng xiết chặt vô lòng kêu "brừm, brừm", không ra tiếng người, giống như tiếng mèo kêu. Thương quá má thường làm như vậy. Lai Trắng kể chuyện gặp ông già. Má thôi cười, xô Lai Trắng ra trợn mắt:
"Ông già nào?".
"Ông già mang chiếc bị bàng".
"Ông già khùng! Gặp làm chi? Tao đập chết!".
Thường không vừa ý chuyện gì má nói: "Tao đập chết!", kèm theo tiếng rú rít. Má không muốn Lai Trắng gặp ông già. Má kêu Lai Trắng xuýt chó đuổi ông già đi. Nhưng nhà không có chó. Từ lâu Lai Trắng muốn nuôi một con chó. Má không thích chó. Nhân dịp này Lai Trắng nói: "Má xin cho con con chó!". Lai Đen cũng nói theo: "On ó! On ó!". Má bật cười, không nói đập chết nữa. Hai anh em cùng cười theo. Cả ba má con cùng cười, kệ hàng xóm nói nhà mẹ con điên. Đó là một buổi chiều vui như mọi buổi chiều. Như những lần giữa đêm mưa dột, ba má con thức dậy cười luôn cho tới sáng.
Tháng sau má đem về con chó con lông vàng nghệ, tai nhọn, chân dài, bụng thon, chạy loăng quăng, sục mõm mọi xó xỉnh trong nhà. Lai Trắng vui lắm! Má tháo dây cho Lai Trắng, niềm vui nhân gấp đôi. Suốt ngày Lai Trắng chạy rong với con chó. Con chó lớn mau như thổi, ba tháng đã phóng qua bờ rào, bốn tháng đào hang bắt được con chuột. Lai Trắng cầm con chuột chạy đi. Người đi đường hoảng sợ la lên: "Thằng quỉ lai ăn chuột sống!". Lai Trắng không ăn chuột sống, nó đốt lửa thui con chuột xẻ thịt ướp muối phơi khô chiều nướng cho Lai Đen ăn. Lai Đen thích lắm, được ăn thịt chuột nướng được anh chăm sóc. Lai Trắng tiếp tục dẫn chó đi rong săn bắt chồn, kỳ đà. Má nói: "Tao đập chết!". Má chỉ nói được những câu ngắn ngủn như vậy, kèm theo tiếng rú rít, hai anh em nghe quen cũng hiểu.
Không phải ngày nào má cũng tìm được việc làm. Có bữa sáng sớm ra đi, lát sau má bồng Lai Đen trở về mặt tiu nghỉu. Xóm dân thưa thớt, má khùng khịu, người ta chỉ mướn làm việc bên ngoài như xách nước bửa củi, cuốc đất trồng rau, xắt chuối cây cho heo ăn, ra suối giặt quần áo, làm cỏ vườn, lột vỏ đậu, theo xe trâu ra đồng chở rơm về đánh thành cây... Lai Đen theo má đi chu du. Lai Trắng ở nhà với con chó, sợi dây cột chân đã được tháo, nhưng Lai Trắng vẫn không ra ngoài đồng.
Ngày càng khó tìm việc làm. Dân tình nghèo đi, việc đánh rơm, làm cỏ vườn, giặt quần áo người nhà có thể tự làm được, không phải thuê mướn. Không có việc làm là không có gạo ăn, khô mắm, quần áo cũ, chăn đắp, đôi dép sứt quai...
Một bữa Lai Trắng nói: "Con ra đồng bắt chuột". Má nói: "Tao đập chết", nhưng giọng đã dịu đi. Lai Trắng nói tiếp: "Con đi với con Vàng, nó bắt chuột giỏi hơn con". Má làm thinh. Vậy là má đồng ý. Nhưng má nhìn ra đồng lo lắng. Dạo này bom đạn nhiều. Người mẹ không biết nhiều về chiến tranh, ai đánh ai, nhưng bom đạn làm bà sợ. Hai đứa nhỏ thấy má sợ cũng sợ theo. Lai Trắng nghĩ mình là con trai lớn, phải có chút gánh vác. Nhà không có dao rựa cuốc xẻng. Lai Trắng chặt khúc cậy vạt mỏng làm giá xắn đất, đi ra cửa kêu lớn: "Vàng!". Con chó nhảy phóng vọt theo, sủa inh ỏi. Người và chó đi băng ra đồng.
Lai Trắng bước những bước đầu tiên, nhưng có cảm giác quen thuộc. Bờ đất, con lạch, đầm nước, cây vông đồng đơn độc đã có sẵn trong đầu. Con chó chạy luồn dưới cỏ, sục mõm khắp nơi, chạy lên trước rồi vòng trở lại, chậm rãi đi theo sau. Một luồng hơi nước nóng ẩm phả vào mặt, nồng nặc mùi bùn, mùi cỏ khô, mùi tanh tưởi của phèn chua lá mục. Con chó tìm thấy một hang cuống quít đào xới, ngập một nửa thân mình trong hang, đất tung lên xối xả phía sau. Nhưng không bắt được con chuột nào. Nắng lên cao, nhưng không nóng bức. Trời đất tươi mát thoáng đãng. Lai Trắng đi thong thả, nhìn ngắm ngọn núi xanh mờ xa xa. Không thấy đường lên núi, nhưng vẫn có người đi lên. Cây vông đồng kỉa rồi. Lai Trắng tìm kiếm cây trâm. Đang mùa trâm chín. Lai Đen thích ăn trâm lắm. Mả đá ong nhiều vô số kể, cái cũ cái mới, cái lớn cái nhỏ thành từng nhóm dày khít. Lai Trắng bắt được con rắn nước, con chó bắt được con chuột. Đầm nước hiện ra, y như Lai Trắng hình dung. Lai Trắng cởi quần áo nhảy xuống nước quẫy lội, nước lạnh kích thích mọi giác quan. Con chó nhảy theo, lội theo kiểu "lội chó" của nó. Lai Trắng thấy sảng khoái, sục vào vệ cỏ hai bên bờ, tôm tép búng lẹt rẹt, cá lội trơn tuột qua hai chân. Cánh đồng bị ma ám, không ai dám ra, tôm cá còn nhiều như vậy. Lai Trắng bắt đầu bắt cá, bẻ nhánh cây xỏ xâu, cá mè vinh, cá thát lát vảy ánh bạc, cá trê, cá lóc đen trũi. Chốc lát được hai xâu dài. Lai Trắng thảy hai xâu cá lên bờ, con chó chạy theo sủa inh ỏi.
Lai Trắng quẫy lội thêm chút nữa, lặn từ bờ bên này sang bờ bên kia, trồng cây chuối giữa chỗ trũng sâu, chỉ để chơi đùa. Bỗng có cảm giác có cái gì cứng ngắc, lổn ngổn dưới chân. Lai Trắng lộn đầu quơ tay nắm thử một khúc, nhớ lời ông già bị bàng nói, rụng rời kinh hãi. Nhưng vẫn bám trở xuống sục tìm, rờ mó ba bốn lần, để biết chắc điều muốn biết...
Xương cốt ngập tràn dưới trũng sâu!
Nó lên bờ bận quần áo vô, run lẩy bẩy, ngồi bó gối, đầu tóc ướt nước chảy thành dòng, cơn lạnh toát ra từ xương tủy. Con chó vẫy nước ngồi xuống kế bên, thè lưỡi thở. Lai Trắng đứng dậy đi về, không ngó tới hai xâu cá. Con chó lẽo đẽo đi theo sau.
Thấy Lai Trắng về tay không, má lắc đầu trợn mắt: "Không có cá hả?". Lai Trắng lắc đầu buồn bã. Má bồng Lai Đen đi ra sau vườn. Lai Trắng không đi theo.
Nhà có khu vườn rộng mênh mông nhiều năm hoang hóa, cây trái biến thành cây hoang cỏ dại, khoai củ mọc cùng với lau sậy, xoài mít cam ổi lớn cùng trâm bầu, gáo, vừng... Bà mẹ ngồi sà xuống bươi đám khoai củ. Lai Đen cùng bươi với má. Có loại khoai mỡ sống vĩnh cửu trong lòng đất, cạnh bờ rào, trong khe đá, khô hạn thế nào cũng không chết, lâu lâu có người đào được củ khoai năm mười ký. Nhưng hai má con không đào được củ khoai mỡ nào cả, chỉ được ít khoai mì khoai lang. Lai Trắng vẫn nằm trong nhà. Mớ xương cốt ngoài đầm đã hút hết hồn nó.
Trời đứng trưa. Má và Lai Đen luộc khoai ăn. Lai Trắng không ăn, nằm khoanh ngủ trên tấm đệm rách. Lát sau Lai Trắng thức dậy thấy Lai Đen nằm ngủ kế bên. Má đi đâu mất. Lai Trắng ôm Lai Đen ngủ tiếp. Xế chiều Lai Trắng bị lay dậy, mở mắt thấy má bồng Lai Đen ngồi kế bên, chìa ra gói cơm ốp trong bẹ chuối, cơm trắng cá kho thơm phức. Má bốc cơm đút Lai Đen, kêu nó cùng ăn. Nó ăn ngấu nghiến, nghĩ bụng má xin cơm đâu đó, không nghĩ gì thêm, đói quá có cơm ăn là được rồi.
Mấy ngày sau, giữa trưa ba má con cũng đang nằm đói meo như vậy, có người đàn bà đến trước cửa nhà la hét chửi bới. Tổ cha nó, đồ ăn cắp ăn trộm, nhà nấu cơm trắng cá kho chưa kịp ăn nó đã ăn trước, có phải là quân trộm cắp không? Má làm thinh, Lai Trắng cũng không nói gì. Ba má con không dám hó hé cho tới khi người đàn bà bỏ đi.
Lúc đó là vào đầu năm 75, Lai Trắng 6 tuổi. Mấy tháng sau nó bước lên chuyến bay định mệnh. Máy bay chưa kịp cất lên cao đã cắm xuống đất, nó trong số ít đứa nhỏ sống sót, điên khùng một dạo rồi cũng trở lại làm người.
 
 
4
 
Cuộc chiến không chỉ có hai bên. Còn có bên thứ ba, không theo phe nào, bị chiến tranh làm cho trôi dạt đi. Đó là đám thanh niên trốn lính sống trên núi, chuyên nghề trộm cắp cướp giật, tuần lễ nửa tháng "xuống núi" một lần, quơ hốt bất cứ thứ gì, bắt trói đàn bà con gái lục tìm tiền bạc tư trang, quần áo cũ, võng bàng nóp bàng cũng cướp, sợi dây da trâu cuộn đem theo không biết để làm gì. Đó là quân cướp đường cướp chợ, giữa sông trên đồng cũng cướp, lùa trâu bò ngoài đồng, bắt gà vịt trong chuồng, trứng gà hốt nguyên ổ, gà con hốt vô bội treo tòng teng trên đầu đòn gánh, đầu kia là dừa khô chuối xanh. Chiến tranh càng ác liệt bọn chúng càng đông, hang hốc nào cũng có. Có lần năm bảy đám cùng xuống núi một lượt, như đám giặc cỏ, qua làng nào làng đó xơ xác, như bầy cào cào qua đám ruộng lúa.
Ông già có chiếc bị bàng năm đó còn tuổi thanh niên, ở trong đám trốn lính ấy. Gã có tật lúc nào cũng kè kè chiếc bị bàng, quen rồi không bỏ được, như con nít ôm gối ôm, trốn chui trốn nhủi cũng có chiếc bị bàng. Đồng bọn gọi là Bị Bàng, như Súng Dài hay Mã Tấu, tên tuổi gắn với vật tùy thân.
Bị Bàng vốn là một nông dân làm ăn chí thú, như tất cả mọi người, chỉ vì sợ bom đạn trốn lên núi, tụ tập năm bảy đứa sống với nhau, nhàn cư vi bất thiện, giành giật nhau sống sinh ra đủ thứ lề thói tệ nạn.
Những năm đó ước chừng có năm bảy đám cướp trên núi, chia nhau từng vạt rừng hẻm núi, chỗ ai nấy ở, đường lên xuống cũng vậy, không đái làm dấu như chó rừng mèo rừng, nhưng cũng rất rạch ròi.
Bị Bàng ở trong nhóm bảy người. Bảy chàng dũng sĩ, con số thật hên, tình cờ thôi, chiếm một hang lưng chừng núi. Một thằng đầu trò "có bằng cấp", tiền án trộm cướp, chỉ huy tất cả. Có hai khẩu AR15, hai trái lựu đạn rỉ sét, không biết loại gì. Một dao găm và một mã tấu. Có đứa lận lưng thêm chiếc kìm bấm, không biết để làm gì.
Đó là những thằng du đãng chính cống, không có từ nào khác. Cuộc sống tù túng trên núi càng khiến chúng thêm xấu xa thô bạo, cướp giật thiên hạ rồi quay ra đâm chém nhau, mất chiếc cà-rá hộp quẹt cũng bị lụi dao vô bụng. Lâu lâu lại thấy một thằng biến mất, bỏ trốn hay bị mã tấu bổ đôi.
Bị Bàng giống như mọi đứa, không thể khác được.
Chỉ có điều khác, Bị Bàng là người làng này, xuống núi là đụng phải người quen, bịt mặt đi ban đêm cũng có người nhận ra. Để tránh những cuộc gặp mặt phiền phức, Bị Bàng thường ở lại núi làm "hỏa đầu quân", hái rau bẫy thú bồi dưỡng cho các chàng dũng sĩ đi cướp giật.
Cướp giật để có cái ăn cái mặc, mua rượu nhậu nhẹt...
Và gái...
Đã liều thân như thế này, sống chay trường làm gì.
Không thiếu gì gái làng chơi dạt ra từ các trại lính, các sư đoàn dã chiến Mỹ. Mặt trận nổ súng ì đùng vẫn thấy có "bóng hồng thấp thoáng", ngọn núi có vô số băng nhóm giang hồ là địa chỉ các cô không thể bỏ qua. Giữa khuya đi ngang một hang nào đó có thể nghe thấy tiếng cười rúc rích của đôi trai gái trong cơn mê hồn trận, sáng ra trước hang quần áo mỏng giăng phơi, như một gia đình hạnh phúc.
Có một dạo mấy em vui vẻ bỗng đi đâu mất hết, rồi nghe tin có sư đoàn Mỹ mới về đóng quân gần đó. Đô-la vẫn là ngoại tệ mạnh!
Ban đêm đi cướp, ban ngày ngủ, uống rượu, ăn thịt nướng nửa chín nửa sống, cuộc sống nửa người nửa thú, bản năng con đực động đậy không thể chịu nổi.
Đồ đạc cướp được, con gái sao không thể cướp?
Đó là ý kiến của thằng đầu trò. Hai thằng đồng ý. Bốn thằng làm thinh, trong đó có Bị Bàng. Coi như chưa đi đến quyết định gì cả.
Hôm đó năm thằng giữa khuya xuống núi như thường lệ. Bị Bàng và một thằng ở lại giữ hang. Gần sáng năm thằng trở về, không thấy mang về heo gà hay tiền bạc tư trang. Nhưng chúng rất vui, cười nói vang vang. Lẫn trong tiếng cười nói nghe có tiếng con gái khóc, giọng quen quen. Bị Bàng đi ngoài rừng về ngồi lại trên một cục đá, nghe ngóng theo dõi.
Chúng bắt theo một đứa con gái, đúng như ý muốn của thằng đầu trò.
Đứa con gái là người trong làng, Bị Bàng có quen.
Chuyện lâu lắm rồi, đã năm bảy năm. Bị Bàng năm đó là một đứa nhỏ. Một bữa chăn trâu ngoài đồng nghe có tát đìa gần đó, Bị Bàng dong trâu tới tìm bắt hôi. Nhưng việc bắt cá đã xong, mọi người đã về hết, chiếc đìa chỉ còn là một bãi bùn. Bị Bàng đứng trên bờ đìa tìm coi còn sót con cá nào không. Nhưng không thấy con cá nào cả, lại thấy có đứa con gái nhỏ từ trong đám cỏ chui ra, mình trần đầy bùn đen trũi, chừng mười hai mười ba, vú nhỏ như vú cau. Đứa con gái nhỏ nhìn sững Bị Bàng, rồi hoảng hốt chạy vọt đi. Bị Bàng nhìn theo cho tới khi nó mất hút trên đồng. Chỉ vậy thôi. Nhưng Bị Bàng nhớ hoài đứa con gái, mấy ngày sau vẫn nhớ. Nhớ ánh mắt hoảng sợ nhìn sững, mình trần đen trũi, hai vú nhỏ như vú cau. Bị Bàng còn gặp lại con nhỏ vài lần nữa. Vài năm sau, khi con nhỏ đã lớn hơn một chút, ra dáng con gái, mắt hơi lé, đám bạn gọi là Lé Kim. Con nhỏ mồ côi cha mẹ, ở với vợ chồng người anh trai. Nó muốn làm quen nhưng chưa có dịp nào. Rồi lâm vô cảnh trốn lính, sống chui nhủi lén lút, không gặp lại con nhỏ, hay bất cứ đứa con gái nào khác.
Từ ngày lên núi sống cuộc đời cùng cực chui nhủi, đôi khi giữa đêm khuya thanh vắng nó nhớ tới Lé Kim, điểm sáng duy nhất trong cuộc đời tăm tối của nó.
Con người ta sống phải có gì để nhớ.
Nó ngồi trên cục đá suy nghĩ. Thật ra không có gì phải suy nghĩ. Chỉ là để xác định chắc chắn chính cô gái đó, giờ đã lớn, bị chúng bắt lên núi, để làm gì nó biết rồi.
Cô gái sẽ bị nhốt vô hang, ban ngày nấu nướng, ban đêm làm vợ cho cả đám.
Nó suy nghĩ và cũng tính rất mau. Không chút chần chừ. Có được khẩu súng và sáu viên đạn, nó sẽ bắn chết cả sáu đứa. Hai khẩu AR15 thằng đầu trò và thằng đệ tử của nó giữ, lúc nào cũng cặp sát bên mình. Hai trái lựu đạn cũng của hai thằng khác, đâu đứa nào tin đứa nào.
Bị Bàng đi tới chỗ thằng đầu trò đang đứng hút thuốc ngoài cửa hang.
"Tụi bây bắt con gái người ta hả?", nó hỏi nhỏ, không chút lên giọng.
"Mày không chịu thì thôi, để thằng khác chơi", đầu trò quay lại cười.
"Thả nó đi!", nó lại nói.
"Sao lại thả?", thằng đầu trò quay lại nhìn mắt nó trong bóng tối. "Mày coi nó cắn tao nè".
"Tao biểu thả nó đi!", nó lại nói, lần này hơi gằn giọng. Nhưng thằng đầu trò đã dụi tắt điếu thuốc, bỏ đi vô hang.
Bị Bàng cũng bỏ đi. Không phải vô hang mà xuống núi, theo con đường riêng chỉ mình nó biết. Con đường chưa có dấu chân người, thỉnh thoảng nó dừng lại cây làm dấu. Nó đã có ý định trong đầu. Phải trù tính thật kỹ, một mình chống lại tất cả. Nó không phải đứa giỏi giang gì. Có một rẫy cũ bỏ hoang bên kia chân núi, chắc còn ít khoai củ, nó tới đó sống tạm ít ngày, tính bề chuyện sắp tới. Khả năng thành công của nó trong việc này chỉ một phần ngàn, nhưng không phải từ lâu nó coi mình đã chết hay sao?
Nó ở chỗ rẫy cũ gần tháng, lần mò qua các rẫy hoang khác moi khoai củ về dự trữ. Mấy đêm nó vô xóm dò la tình hình, lấy cắp ít vật dụng, quần áo phơi ngoài dây, cám heo trong chuồng, dao rựa nồi niêu tiện tay quơ lấy. Nó chuẩn bị đủ cả, chỉ không biết cô gái còn trên núi không? Không thể liều lĩnh hỏi thăm, gặp đám con nít ngoài đồng cũng không dám hỏi.
Tình cờ nó có được chút thông tin. Có người đi ngang ghé vô xin uống gáo nước. Bị Bàng múc nước mời, nói lâu rồi không về làng, không biết lâu nay bà con mần ăn thế nào. Không mần ăn gì được đâu, người khách đáp. Bom đạn đầy trời, lại sinh nạn cướp giật. Nó nói chuyện cướp giật nó có nghe, nhưng cụ thể như thế nào? Nghe nói có chuyện bắt cóc con gái nữa phải không? Người khách nói có. Đứa con gái mới lớn tên Lé Kim, mồ côi cha mẹ, có người anh đi lính chết trận, ở nhà một mình. Giữa đêm bọn cướp bắt cóc đem lên núi, cả tháng trời nay rồi, không biết thân tàn ma dại như thế nào.
Người khách ra đi. Bị Bàng cũng ra đi theo, nhằm hướng có tiếng súng đi tới. Chiến trận là nơi đánh nhau, cũng là nơi làm ăn buôn bán, những băng đảng buôn thuốc phiện, ma túy, súng đạn... đủ thứ vật dụng viện trợ đáng giá, chỉ có ở các sư đoàn Mỹ. Bị Bàng tới đó để kiếm tiền. Nó đi suốt ba ngày đêm, càng xa càng tốt, để râu tóc dài, đội nón lá lụp xụp, chiếc bị bàng cố hữu vẫn kẹp sát nách, không còn ai nhận ra nó. Nó gặp nhiều sư đoàn Mỹ đi càn, các băng nhóm bu theo. xe GMC chạy tung bụi mù trời, trực thăng quần đảo ầm ầm trên đầu. Đúng là "trận địa mần ăn" rồi. Nó nhào vô một băng nhóm, làm đệ tử cho một thằng mặc-nô, ra tận giao thông hào mua bất kể thứ gì từ trong đám lính Mỹ tuồn ra: ra-sơn thức ăn, súng đạn, võng dù, áo pông-sô, thuốc lá, thuốc uống, máy ảnh, tiền đô la đỏ... Và bán lại độc một thứ: ma túy! Đạn bay vèo vèo trên đầu, ghim lập phập dưới chân, đám lính Mỹ chúi đầu xuống giao thông hào, nó vẫn chạy xổng lưng. Tiền bạc là trên hết, mạng sống chỉ là bọt bèo.
Chỉ vài ba trận nó có được vốn liếng kha khá, tách ra làm ăn riêng, tự lập cho mình một băng đảng. Trở thành nhà cái tiền bạc sinh sôi nảy nở nhanh chóng. Kệ người khác ngã chết trước mặt, nó thản nhiên đút tiền vô túi. Nó len lách, chèn ép, hăm dọa, lừa lọc, quị lụy, làm bất cứ chuyện gì để có tiền.
Nó cần tiền để mua một khẩu súng, loại đặc dụng, tiểu liên báng xếp lính biệt kích Mỹ thường dùng, có thể giấu trong áo choàng pông-sô. Loại này tương đối khó tìm, nhưng chợ trời lính tráng không gì không có.
Nó mất ba tháng để kiếm tiền, thêm một tháng kiếm mua khẩu súng, cùng mấy băng đạn. Nó lên đường trở về. Đường về gian khổ gấp mấy lần, do phải giấu khẩu súng. Nó giả dạng người ăn xin, đội nón lá sùm sụp, mất cả tuần lễ trở về rẫy cũ chôn giấu khẩu súng, chưa vội vô làng, tìm gặp đám trẻ chăn trâu ngoài đồng dò la tin tức. Lé Kim đã trở về, trở nên điên khùng, tàn tạ như một bà già, ai vô nhà cũng đuổi, bà chị dâu tìm gặp cũng la hét chửi rủa: "Tổ cha tụi bây!". Nó tới nhà để nhìn tận mặt. Nó đã nhìn thấy cô gái một lần lúc cô là một cô bé. Vài lần mấy năm sau khi cô đã lớn. Giờ đây nó muốn nhìn thấy cô một lần nữa, để nuôi dưỡng ý chí phục thù.
Vào giữa khuya nó tới núp trước nhà, sau hàng rào bên kia đường. Lát sau cô từ trong nhà đi ra, rón rén sợ sệt, dừng lại ở cổng ngó đầu này đầu kia, tóc tai bờm xờm, liêu xiêu tiều tụy, quần áo rách tả tơi, người chỉ còn da bọc xương, hai ống quần buộc túm lại như người đi bắt cá. Cô tiếp tục đi nghiêng nghiêng, băng qua đường gần chỗ nó núp, mắt nhắm mắt mở, miệng méo một bên, bước thoăn thoắt cặp theo hàng cây còn đổ bóng tối, cầm nhánh cây đập đập vào bờ rào ven đường.
Không còn chút nào hình ảnh cô bé mắt trong veo từ dưới ao chui lên ngày xưa.
Một con người có thể bị hành hạ đến như vậy sao?
Khuya hôm sau nó đi ngược lên núi, theo con đường riêng có dấu cây, hai đêm liền rình phục trước cửa hang. Bọn chúng vẫn ở chỗ cũ, đủ sáu tên, đi về như trước đây. Đêm thứ ba, vào lúc rạng sáng nó nổ súng bắn chết hai thằng. Thằng thứ nhất từ trong hang đi ra đứng vươn vai ngáp, nó bắn vô ngay giữa ngực, phát đạn AR15 không mạnh nhưng xuyên thủng. Thằng cướp ngã ngửa ra sau, dập đầu lên một tảng đá. Thằng thứ hai từ trong hang chạy ra, vẻ mặt hoảng loạn, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, phát đạn thứ hai đã bay tới, ghim thẳng vô người, không biết chỗ nào. Đang đà chạy tới nó té sấp, chồng lên xác thằng trước.
Bị Bàng đã tính trước, chỉ có thể được chừng ấy. Số còn lại chắc đã hiểu ra phần nào, không dại gì thò đầu ra. Hang chỉ có một lối ra, chúng đang tìm cách đối phó, đủ thời gian để nó tìm chỗ ẩn nấp, nghe ngóng động tĩnh rồi rút đi êm.
Còn lại bốn tên. Chúng đã biết những phát đạn từ đâu bay tới. Tốt thôi, chúng phải biết chúng chết vì cái gì. Chắc chúng đã dời chỗ ở. Có thể đã rã ra, không dại gì tụm lại để hứng đạn. Việc sắp tới sẽ rất khó. Nhưng nó chỉ còn việc đó thôi, dồn hết tâm trí sức lực vào đó.
Nó chỉ còn hình ảnh cô gái trong tim, vậy mà chúng đã lấy mất.
Chúng phải đổi lại bằng những mạng sống.
Nó đi thật xa, để tất cả rơi vào quên lãng. Nhập vô một băng đảng bá vơ nào đó, xóa hết mọi dấu vết, không còn ai biết tung tích.
Đó là một băng chuyên moi hàng PS*, chạy đeo bám theo các đoàn xe chở quân trang quân dụng Mỹ, gặp thứ gì cũng moi tuôn xuống, rượu bia và thức ăn khô, máy chụp hình và áo choàng đi mưa, súng đạn và quần áo, thuốc lá và ca-tu-se đạn... Bị Bàng không màng những thứ đó, chỉ mong trúng một "vố" đô-la đỏ để thực hiện công việc của mình. Thường có những xe chở tiền lương về cho các đơn vị Mỹ, canh phòng rất cẩn mật, hộ tống như xe chở tổng thống. Muốn "đánh" những "vố" như vậy phải là băng chuyên nghiệp, và phải một nửa bỏ mạng. Chúng nhập ba băng làm một, tập dượt rất kỹ, và trận đó cũng non một nửa nằm lại dọc đường. Nó may mắn sống sót, cầm một nắm đô-la nhảy lăn vô một đám cỏ, chạy trối chết suốt ba ngày đêm, đi bộ tiếp ba ngày đêm nữa, cho đến lúc biết chắc không có người hay chó đuổi theo, bắt đầu tìm đường trở về chỗ cũ.
Nó kiếm tiền đâu phải vì tiền. Bọn chúng phải chết hết, cho tới đứa cuối cùng. Nó tung đô-la thuê mướn đám lâu la tìm cho ra tông tích bốn thằng còn lại. Chúng còn sống, cả bốn thằng. Và như dự đoán, đã rã ra. Vẫn đi làm cướp, đâu có nghề gì khác. Nhưng tìm chúng không dễ. Mất mấy tháng trời bọn lâu la tìm được một thằng giả dạng làm thợ đập đá, ban ngày quai búa đập đá ban đêm ra đường chặn cướp người đi hành hương. Bị Bàng đóng vai người ăn xin, đi cà nhắc, chiếc nón lá rách đội sụp nửa mặt, đi qua lại vài lần để nhìn rõ tên cướp. Sau đó đổi dạng thành bà già nhà giàu đi hành hương, bận áo dài màu chàm, đeo vàng ở cổ, ghé vô mỏ đá hỏi đường, lôi tên cướp ra ngoài chuyện vãn. Thời cơ có một không hai, tên cướp hí hửng đi theo bà già, vừa quai búa lên liền bị phát súng từ trong chiếc áo chàm nổ ra, trúng ngay giữa mặt. Tiếng nổ thật khủng khiếp, nhưng lẫn trong tiếng nổ đá không ai nghe thấy.
Còn ba. Phải hành động mau, ba thằng kia có thể đánh hơi thấy cái chết đang rình mò. Lại mất tháng trời tìm ra thằng thứ tư, đã thôi làm cướp, bán lẻ ma túy cho một trại quân dịch, đám choai choai muốn chết trước khi ra trận. Lần này không cần giả dạng. Bị Bàng xáp lại gần tên cướp, nón lá kéo sụp quá nửa mặt:
"Cho mua một tép coi!".
"Tiền đâu?".
"Đây...".
Họng súng thò ra khỏi áo pông-sô. Phát súng nổ ở cự ly gần, thằng cướp bị bắn xuyên hông, bụi ma túy tung trắng xóa.
Hai thằng cuối cùng đi cặp đôi, chuyên cướp trên những chuyến xe khách đường dài. Khó có thể theo dấu loại cướp này. Chúng lên xe bất chợt, lựa đoạn đường vắng, lên ngồi chen với khách, giữa chừng giương súng ra trấn lột, phóng xuống một cụm rừng mất hút trong bụi rậm. Bị Bàng nghĩ cách không theo hai thằng cướp trên xe khách, mà chặn chúng lúc tiêu thụ đồ gian. Vòng vàng tư trang chúng phải bán ngay, gần đâu đó. Bị Bàng và thằng đệ tử vào vai người đi mua đồ gia bảo, vàng bạc đá quí chiến tranh thất lạc, hoa tai dây chuyền vòng vàng ông bà để lại cho con cháu, không chỉ là của cải còn có ý nghĩa tâm linh, tài sản quí giá của gia đình bà con cứ giữ, phần nào cần bán để trang trải nợ nần hai anh em xin thu mua, không trả giá. Nhưng nó không mua món nào cả. Nó cầm lên hỏi cái này có từ đâu, ai đem tới bán, hai người đàn ông trên đường rong ruổi phải không? Bị Bàng và thằng đệ tử đi xe đò lắc nhắc dọc theo quốc lộ miền Trung, lên tận Tây Nguyên dân cư thưa thớt, ghé từng nhà vẻ thong dong đĩnh đạc, nói năng thì thầm mặt buồn dàu dàu, thể hiện mối từ tâm, như cha cố đi truyền đạo.
Không thấy có hai tên cướp ghé bán vòng vàng đồ gia bảo. Chúng bán ở đâu? Không cần tiền xài sao?
Hóa ra Bị Bàng và thằng đệ tử đi sau một bước. Hai tên cướp đánh hơi thấy có người theo dõi, lộn lại phía sau, chờ cơ hội nổ súng trước, Bị Bàng và thằng đệ tử biến thành người bị rượt đuổi. Hai người liền lộn trở lại, hai bên gặp nhau, nổ súng một lượt. Thằng đệ tử bị trúng đạn chết ngay đợt đầu tiên. Bị Bàng còn lại một mình chống lại hai thằng. Đôi bên quần nhau, súng nổ vang trời, chửi rủa nhau ỏm tỏi trong một cụm rừng.
"Thằng chó đẻ! Sao mày cứ tìm bắn tụi tao?", thằng cướp la hét. "Chơi bời chút đỉnh cũng bị bắn lủng bụng hả?".
"Ằng ó ẻ!", thằng kia ngọng nghịu nói theo.
"Chết mẹ tụi bây hết đi!", Bị Bàng chửi lại.
Lúc đó vào buổi trưa. Xế chiều súng vẫn còn nổ. Trời sụp tối hai thằng cướp hết đạn bỏ chạy. Bị Bàng còn nguyên một băng đầy, đuổi theo rượt bắn chết cả hai.
Vậy là xong. Nhưng không thấy nhẹ lòng chút nào. Còn nặng nề hơn là khác. Như mọi tội lỗi của bọn cướp dồn hết lại cho nó.
Bị Bàng quay về chỗ rẫy cũ, đầu óc trống rỗng, cơ thể lụn bại, không còn thiết tới chuyện cướp bóc tiền bạc gì nữa, cặm cụi trồng khoai tỉa bắp sống qua ngày. Cho đến khi sức cùng lực kiệt, nó chống gậy đi ăn xin. Một vài lần nó ghé qua làng, biết được Lé Kim đã bình tâm phần nào, trở thành người mẹ, nuôi hai đứa con lai, một trắng một đen. Ban ngày tha con đen đi xách nước bửa củi kiếm cái ăn, thằng trắng ở nhà cột chân vô gốc cột đi quanh quẩn như con chó con. Chiều về bà má nấu nướng, thằng trắng chơi với em đen, cơm chín ba má con cùng ăn, cười giỡn theo kiểu điên khùng nhưng rất vui.
Bị Bàng kể lại chuyện đó cho Lai Trắng lần gặp ở Mỹ, trong đêm hai người ngủ với nhau. Sáng ra trước khi ra đi Bị Bàng nói thêm:
"Hãy nghĩ mà thương má mày, con à! Gom hết khổ đau cả trời đất này, cũng không bằng nỗi đau của má mày đâu".
5
 
Tiếng nổ không biết từ đâu, giữa lưng chừng trời hay từ sâu lòng đất. Lai Trắng không nghe thấy, cảm giác bị hất tung lên, không biết gì nữa. Sau đó tỉnh lại trong nhà đầy người, nằm trên chính chiếc giường ngày xưa anh đã nằm, lúc là đứa trẻ rộng thênh thang, giờ thân hình đồ sộ vừa khít, còn ló mấy đầu ngón tay ngón chân.
Trước đó không lâu, đám con nít đang chơi ở sân nhìn thấy anh đi ngang qua, băng ra đồng. Rồi nghe tiếng nổ, chúng đồng thanh kêu cứu, chạy đến báo cho Lai Đen. Trong mấy phút Lai Đen chưa hiểu chuyện gì xảy ra. Rồi chạy đi. Hàng xóm nhiều người chạy theo. Lai Trắng nằm sấp trên cỏ, không động đậy, không biết còn sống hay đã chết. Chung quanh mặt đất bị xới tung lên. Lai Đen nhào tới ôm lấy anh khóc nấc lên. Mọi người lôi cô ra, ra sức lật người Lai Trắng lên rờ tìm vết thương, làm cáng khiêng anh về nhà.
Anh không bị vết thương nào, thật vô cùng kỳ lạ. Chỉ có sức nổ làm anh ngất đi. Anh nằm trên giường không động đậy, không biết còn thở hay không. Mọi người tiếp tục tìm kiếm không thấy có máu chảy, không bị rách toác chỗ nào. Nhưng người dẻo ngoặt, suốt mấy tiếng đồng hồ vẫn cứ như vậy. Lai Đen vẫn khóc. Có người chạy đi báo y tế xã. Đám con nít vẫn còn bu đầy. Một đứa ngó sát vào anh, la lên: "Ông Tây thở rồi!". Lai Đen cúi sát thấy anh thở nhè nhẹ, càng khóc lớn hơn, lần này là vui mừng.
Anh nằm như vậy suốt hai ngày. Ngày thứ ba mở mắt ngồi dậy ăn chén cháo. Rồi ăn cơm, phục hồi mau chóng. Chỉ có trí nhớ là biến mất, hỏi gì chỉ lắc đầu, hoặc nói làm xàm gì đó những câu vô nghĩa. Trái nổ không văng trúng miểng, nhưng lấy đi hết đầu óc của anh.
Thỉnh thoảng có những cơn rung nhẹ trên mặt, trên tay chân, như cơn dư chấn của phát nổ vẫn còn đọng lại.
Hàng xóm vãn dần. Nhà Lai Đen cũng trở lại với công việc của mình. Vợ chồng đứa con gái đi làm đồng, thằng nhỏ đi học. Lai Đen làm việc trong nhà để trông chừng ông anh và đứa cháu ngoại. Lai Trắng đi lững thững quanh nhà, lẫm chẫm như đứa con nít. Rồi đi xa hơn, ra ngoài vườn đứng dựa gốc dừa nhìn ra đồng, ánh mắt trống vắng như không nhìn thấy gì.
Tuần sau có người khách sạn thành phố xuống tìm anh. Cùng đi có người của chính quyền xã. Lai Trắng đã đăng ký đầy đủ ở khách sạn hôm xuống ở sân bay, gởi lại bản phô tô hộ chiếu, ít tiền cọc và tư trang.
"Thấy anh đi lâu quá chúng tôi tới coi thế nào", người khách sạn nói.
"Vấn đề thủ tục thôi", người chính quyền xã nói thêm. "Hạn visa còn lâu. Nói chung không có vấn đề gì".
Họ ngồi ở bàn giữa, Lai Đen ngồi với Lai Trắng. Bên kia là hai người khách.
"Gặp anh ở đây như vầy được rồi", người khách sạn nói tiếp.
"Nhưng anh ở đây lâu phải đăng tạm trú", người chính quyền nói thêm.
"Anh ấy ở nhà mình mà tạm trú cái gì?", Lai Đen nói. "Đây là nhà anh ấy. Anh ấy sanh đẻ ở đây. Có phải vậy không anh?".
Lai Trắng chỉ cười, không nói gì.
"Được thôi", người khách sạn nói. "Chúng tôi sẽ có phòng khi anh ấy về thành phố".
"Nhưng vấn đề là anh ấy ở đây bao lâu", người chính quyền nói. "Mọi công dân đều phải đăng ký cư trú, huống chi anh ấy là người nước ngoài".
"Anh ấy không phải người nước ngoài. Anh ấy người ở đây, hồi nhỏ bị cột chân vô gốc cột này nè", Lai Đen nói.
"Đăng ký tạm trú thôi mà", người chính quyền cố dịu giọng.
"Anh ấy bị nổ mìn không nói được, đăng ký làm sao?", Lai Đen nói.
"Bị nổ mìn không sao hả? Ôi may quá!", người khách sạn nói.
"Anh ấy thật may", Lai Đen nói. "Đi Mỹ một lần bị rớt máy bay. Giờ trở về bị nổ mìn. Còn thiếu rủi ro nào nữa?".
"Mìn của Mỹ gài lại đó", người chính quyền nói.
"Biết rồi", Lai Đen nói. "Nhưng hơn ba mươi năm rồi nó vẫn nổ, anh ấy không trúng miểng nhưng cứ cười hoài, không biết bịnh tình thế nào".
Cuộc nói chuyện không đi tới đâu. Người khách sạn về thành phố. Người chính quyền hẹn tháng sau hết hạn visa, sẽ trở lại.
Từng ngày trôi qua. Không biết Lai Trắng nhớ ra được gì không. Không thấy anh nói gì.
"Anh quên hết như vầy cũng là điều may", Lai Đen nói để an ủi anh, cũng tự an ủi mình. "Má khổ cả đời. Anh em mình cũng khổ, nhiều chuyện thà quên đi còn hơn".
Rồi lại nói:
"Nhưng nhiều chuyện anh phải nhớ, quên hết không được đâu".
Từng ngày trôi qua. Lai Đen không màng chuyện thủ tục giấy tờ, đăng ký tạm trú cho Lai Trắng. Nhà mình mình ở. Lai Trắng tập đi từng bước, đi vòng quanh nhà, lên võng nằm đưa kẽo kẹt rồi đi ra sau vườn, đứng dựa gốc dừa nhìn ra cánh đồng.
Thỉnh thoảng Lai Đen bồng đứa cháu ngoại đến ngồi bên anh, hỏi anh biết ai đây không? Lai Đen em gái anh nè, nói đi!
Lai Đen quyết tâm phục hồi trí nhớ cho ông anh. Như con nít tập đi tập nói, chỉ cái này cái kia biểu nói theo. Rồi sẽ nói được thôi. Nhà không có tấm hình, vật kỷ niệm chỉ cho anh coi sẽ nói dễ hơn. Nhưng đâu gấp gáp gì, nhà mình mình ở, bao lâu cũng được. Hồi chiến tranh má còn nuôi được hai anh em, giờ yên hàn rồi Lai Đen không nuôi được anh mình hay sao?
Từng ngày Lai Đen kiên trì nhẫn nại, chỉ Lai Trắng chỗ này chỗ kia gợi anh nhớ lại:
"Anh còn nhớ không, má cột chân anh vô gốc cột này nè. Buổi chiều má bồng em đi làm về, tháo dây cho anh, nổi lửa luộc khoai kho cá, dọn ăn ngay cạnh bếp. Chính lò bếp này. Em khóc đòi ăn cơm không chịu ăn khoai, má đánh em rồi má khóc, anh cũng khóc. Ba má con ngồi khóc rồi cùng cười, hàng xóm nói ba má con điên...".
Lai Đen kể tiếp:
"Sao anh không nhớ, hả anh? Chiếc bếp còn nguyên như ngày xưa, bao nhiêu lần sửa nhà em không cho thợ đập bỏ. Em muốn giữ kỷ niệm về anh, những lần ba má con mình ngồi bên nhau...".
Lai Đen lại kể:
"Chuyện này chắc anh còn nhớ. Một buổi sáng thức dậy thấy có mâm xôi đậu thịt gà ở thềm nhà. Hai anh em mình sà vô bốc ăn, má chạy ra thấy vậy cũng cùng ăn. Bữa đó má khỏi đi làm, mâm xôi thịt gà đủ no cả ngày. Sau mới biết có người mới tới làng, đi ngang nghe ba má con cười nói ru rít, tưởng nhà có ma, đem đồ ăn tới cúng vái...".
"Chuyện vui cũng có chuyện buồn cũng có", Lai Đen kể không thôi. "Sau lần má đem về gói cơm trắng cá kho, lát sau có người đàn bà tới chửi bới, nhiều lần về sau má đem cơm về cũng có người tới chửi bới như vậy. Lần nào quần áo má cũng rách bươm, mặt mày tay chân trầy suể. Hỏi, má nói bị chó cắn. Sao chó lại cắn má? Sau này lớn lên anh em mình mới biết. Cay đắng lắm, thương má biết chừng nào. Mình còn nhỏ chỉ biết ăn, đâu biết má phải đi ăn cắp để nuôi mình".
Chuyện này anh không được quên. Hai anh em mình ở trại mồ côi nhà chùa. Một bữa má tới thăm, anh không chịu ra gặp. Anh bị đám nhỏ chọc phá, nói má lấy Mỹ đẻ con lai. Anh bỏ chạy trốn, má chạy theo kêu réo inh ỏi: "Mày không cho tao hun hả? Mày không cho tao hun hả?".
"Sao anh bỏ chạy, không cho má hun, hả anh?", Lai Đen hỏi mà nước mắt chảy ròng ròng.
Lai Trắng cười với tất cả các câu chuyện, không biết có nghe thấu hay không.
Lai Đen vẫn kể, từng chuyện qua bao năm tháng, mưa dầm thấm lâu. Đây là nhà anh ấy, em gái anh ấy, người quen cảnh cũ, anh ấy phải nhớ ra.
Visa Lai Trắng đã hết hạn. Nhưng gia hạn ở đâu, gặp ai, tổng lãnh sự Mỹ là cái gì, Lai Đen không biết. Chính quyền địa phương cũng không biết, chưa từng giải quyết trường hợp này. Nhưng làng xóm đều biết Lai Trắng, nhà chùa cũng biết, Lai Trắng hồi xưa chăn trâu ở đây. Anh ấy đạp trúng trái mìn, tai nạn chiến tranh, không chết là may, còn sống sinh rắc rối thế này. Chính quyền nói họ không muốn làm khó, nhưng phải báo cáo lên trên, anh ấy chịu khó đến xã thẩm vấn. Nhưng Lai Trắng nói không được, thẩm vấn cái gì?
Chuyện đẩy đưa rồi cũng không tới đâu.
Hồi nhỏ ở nhà Lai Trắng không có giấy tờ gì, vô chùa cũng vậy. Đi Mỹ mọi giấy tờ do người cha nuôi lo. Ở Mỹ tướng tá dềnh dàng da trắng mũi cao, không ai nghĩ anh là người gốc Việt, đặt luôn tên Mỹ, không có chữ Việt kèm theo. Giờ đây visa hết hạn, coi như anh không có gì cả, như người ở đậu trong nhà mình.
Nhưng anh không biết gì những chuyện đó. Anh đi đứng thong dong, nhàn nhã, cười với tất cả mọi người. Có khi cười với cả cây cột, ngạch cửa, nhìn thấy cây rơm cũng cười. Anh đi đứng lững thững, như con nít tập đi. Đi vòng quanh nhà, rồi xa hơn, ra tới ngõ. Thằng con trai đi học về, Lai Đen cho phép nó dẫn anh đi chơi qua nhà hàng xóm, bắt đầu từ những nhà gần nhất.
Thằng con trai dẫn Lai Trắng qua nhà bà mụ vườn sát bên, chỉ cách một mương dừa. Xưa bà hay qua nhà chuyện vãn với má, kể đủ thứ chuyện sinh đẻ. Má nói má không cần sinh đẻ, má có hai đứa con rồi. Bà nói để bà dạy cho cách nuôi con. Con nít hay bệnh, cười giỡn đó ngã ra khóc ri rỉ, thuốc ở quanh ta sau hè ngoài vườn. Bị đẹn đâm lá cỏ mực rà lưỡi, ấm đầu cạo gió ở hai gan bàn chân, đầu có cứt trâu thoa củ nghệ với lá trâm bầu... Bà hỏi Lai Trắng sao bỗng dưng không nói gì hết vậy? Biểu Lai Trắng đưa đầu coi còn cứt trâu không?
Thằng con dẫn tiếp Lai Trắng đến quán ngoài ngã ba đường. Quán đông vui, nhiều người chuyện vãn, thằng con mong ông cậu nghe chuyện gợi nhớ được điều gì. Bà chủ quán không chồng mồm miệng lanh lợi, trạc tuổi Lai Trắng, nói thuở nhỏ hai người có chơi "cút bắt" chung với nhau. Bà chủ quán kéo Lai Trắng đến ngồi ở bàn giữa, nói ông Tây ơi là ông Tây ơi, ông bỏ tụi này về xứ Mỹ của ông, rong chơi đã đời, trở về đạp trái mìn thành đứa con nít đi lẫm chẫm, quên hết mọi ưu phiền. Ông là nhất trần đời. Bà chủ quán kể chuyện hồi nhỏ hai người đi tắm đìa, bà giả chết nằm sải tay, Lai Trắng khóc rống lên, tiếng khóc Tây ồm ồm như cọp rống.
Bà chủ quán nói:
"Giờ ông còn thương tôi như hồi đó không? Hay quên hết rồi?".
Một người khách trong quán nói:
"Chuyện lớn chuyện nhỏ hễ nhớ thì nhớ, quên thì quên. Nhớ hết làm sao sống nổi?".
Một người khác nói:
"Tôi có biết ông này. Hồi nhỏ tôi có chăn trâu chung với ổng".
Thằng con trai dẫn Lai Trắng đi hết nhà này tới nhà khác, không xa lắm để kịp về ăn cơm trưa cơm chiều. Bữa cơm cả nhà ngồi quây quần trên tấm đệm giữa nhà. Lai Trắng ngồi xếp bằng đặt tô cơm vô lòng, cầm muỗng múc ăn như hồi nhỏ. Lai Đen hỏi thằng con trai dẫn cậu Hai đi đâu, gặp ai, có nhớ ra chuyện gì không? Rồi bới thêm cơm vô tô cho Lai Trắng, chỉ vô mặt mình hỏi:
"Ai bới cơm cho anh Hai đây? Em nào thương anh Hai quá đây?".
Lai Trắng ngồi thẳng người, nhìn Lai Đen đăm đăm, mấp máy môi, mặt căng thẳng, trong nỗ lực cố gắng tột độ. Nhưng rồi chỉ lắc đầu nhè nhẹ, hai giọt nước mắt lăn dài trên gò má đầy tàn nhang.
Lai Đen cũng khóc. Rồi cười lau nước mắt nói với đám con:
"Không sao đâu, rồi cậu Hai sẽ nhớ ra thôi. Lai Trắng, Lai Đen, xứ này chỉ có hai tên đó, sao không nhớ?".
Sáng chủ nhật nghỉ học, thằng con dẫn Lai Trắng đi xa hơn một chút, đến nhà ông già cụt chân, hàng xóm gọi là ông Cụt, có họ hàng xa với người mẹ. Ông đang ngồi đan giỏ. Một đống lờ lọp kế bên. Hai cậu cháu ngồi xuống bộ vặt tre kế đó. Thằng con trai nói:
"Cậu Hai cháu nè ông Cụt à! Cậu Hai cháu ở Mỹ về, đạp nhầm trái mìn nổ đùng không trúng miểng nào. Nhưng giờ cậu Hai cháu không còn nhớ gì hết".
"Tao biết rồi", ông Cụt đáp. "Tao cũng giống như cậu Hai mày, đạp mìn bị cụt chân. Còn cậu Hai mày bị hư cái đầu. Chỉ có khác trái mìn do tao gài".
Ông già nói thêm:
"Nghe nói nó trở thành đứa con nít, bắt đầu tập đi học nói, thật lạ đời. Kiếp luân hồi đó. Kiếp luân hồi chỉ trong một đời người. Lạ lắm! Linh thiêng lắm! Không ai được như nó. Kêu nó mai trở lại đây nghe tao kể chuyện này...".
Ông già không kịp kể chuyện. Ông chết đêm hôm đó. Ông ở một mình, không biết chết lúc nào. Sáng ra có người đi ngang ghé vô đốt mồi con cúi, kêu "Ông Cụt ơi! Ông Cụt ơi!", không nghe ừ hử gì ráo. Ngó lên giường thấy ông nằm thẳng đơ, chiếc chân cụt cũng thẳng. Đống un vẫn còn cháy. Người đó qua nhà bên báo tin, nói chết già thôi, tới tuổi trời kêu về. Nói bận đi đốt đồng, tối về phụ chôn cất.
Chiều hôm sau đang ngồi ăn cơm Lai Trắng bỗng ngẩng lên nghe ngóng, chỉ tay nói ư a gì đó. Lai Đen lắng tai nghe, nói:
"Kèn đám ma! Đám ma ông Cụt đó mà! Anh Hai muốn đi dự đám ma ông Cụt không?".
Lai Trắng làm động tác như gật đầu. Lai Đen vui mừng:
"Cậu Hai nghe được rồi! Ăn lẹ đi mấy con, cả nhà mình đi đám ma".
Làng nghèo đám ma đơn giản, thường chôn cất vào ban đêm. Ban ngày còn phải đi làm đồng, săn bắt, làm thuê làm mướn.
Cơm nước xong trời sụp tối, cả nhà sắp thành hàng đi đám ma ông Cụt. Lai Đen đi trước. Lai Trắng đi kế. Thằng con trai đi giữa bưng nhang đèn. Con gái thằng rể thay nhau bồng con, đi sau rốt.
Tiếng kèn văng vẳng, lúc xa lúc gần.
Nhà ông Cụt đốt đuốc sáng trưng, thêm mấy đống lửa trước sân sau hè. Lai Trắng được đặt ngồi giữa nhà, quay ngang ngửa cười với mọi người. Thằng con trai ngồi kế bên. Lai Đen và con gái lớn vô bếp phụ nấu nướng. Không có gì nhiều, vài ba con gà con vịt nấu nồi cháo cúng đưa tang. Cánh đàn ông đang đóng hòm ([1]), bộ ván nhà ai đó đưa sang. Thằng rể ra cây rơm rút rơm bó thành từng bó nhỏ, gọi là rơm bó, để tẩn liệm.
Người chết nằm trên giường, như đêm qua nằm ngủ.
Lai Trắng cười không thành tiếng với mọi người.
Khách đưa tang không đông, nhưng cũng đầy đủ lễ bộ. Có người thổi kèn, có đàn bà khóc. Người chết không con cái bà con thân thuộc. Nhà Lai Đen là bà con xa, Lai Trắng cao lớn được cử bưng bình lư hương đi sau quan tài. Lai Đen đi kế sau. Thằng con trai đi cùng anh chị nó. Quan tài ván mỏng, người chết gầy nhom, tẩn liệm bằng rơm bó nhẹ tênh, chỉ cần hai người khiêng. Đã gần giữa khuya, trời có trăng non. Đêm thật yên bình. Lai Trắng đi đĩnh đạc, cười lặng lẽ. Nghĩa địa ở đầu làng, đoàn người đi qua cánh đồng rộng.
Huyệt đã đào xong, hai người đàn ông đang ngồi hút thuốc. Đám tang đi tới, hòm đặt xuống cạnh huyệt. Cánh đàn ông ngồi xuống hút thuốc với hai người đào huyệt, nói chuyện mùa màng thời tiết. Cánh đàn bà nói chuyện con cái nhà cửa.
Không ai nói chuyện về người chết.
Người đàn ông đào huyệt dụi tắt điếu thuốc, đứng dậy nói:
"Thôi mình hạ huyệt đi!".
Hòm hạ xuống huyệt thật nhẹ, không gây tiếng động nào. Đất cào xuống văng rào rào trên nắp hòm, vun thành một nấm mồ nhỏ.
"Yên nghỉ nghen ông Cụt!", một người nói.
"Yên nghỉ ông Cụt ơi", mọi người nói theo.
Lai Trắng đứng kế bên thằng con trai, bỗng thì thào:
"Ông Ụt!".
Thằng con trai trố mắt nhìn:
"Ôi trời đất ơi, cậu Hai nói được rồi!".
Nó chen đi tới bên Lai Đen:
"Má ơi, cậu Hai nói được rồi!".
Lai Đen đang đứng nghiêng người bên nấm mộ, quay lại, không tin vào tai mình:
"Cậu Hai nói sao?".
"Cậu Hai nói ông Ụt!".
Lai Đen đi mau tới chỗ Lai Trắng, nắm hai tay anh dặt dặt:
"Anh Hai nói được rồi phải không? Nói lại đi! Ai đứng trước mặt anh đây?".
"Ai En!".
 
Tháng 01-2011
L.V.T


[1] Áo quan.

Nguồn tin: TCNV 04-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn