ĐỖ HÀN
Bánh tết của Lang Liêu
Truyện ngắn
Người Việt ai cũng biết: Lang Liêu dâng bánh chưng, bánh dầy; Vua ăn, khen ngon. Vua chọn hai thứ bánh ấy để tế lễ tổ tiên. Vua còn chọn Lang Liêu là người kế vị, định truyền ngôi cho. Nhưng nhiều người không biết rằng việc lên ngôi của Lang Liêu gặp rất nhiều trắc trở. Nó bắt nguồn từ việc Vua có nhiều vợ và cũng rất lắm con. Lang Liêu là kết quả của một cuộc mây mưa vu vơ giữa vua cha với một thôn nữ. Xuất thân của mẹ thấp hèn nên Lang Liêu rất biết phận. Chàng chí thú với ruộng nương, cày sâu, cuốc bẫm. Hàng tá các con vua là các lang giàu có cai quản các mường, các chạ khắp nước. Ai cũng cho rằng mình mới xứng được lên ngôi Vua. Họ dè bỉu Lang Liêu là dù dờ, vô học… Trong số họ nổi lên có Lang Đà. Lang Đà là con của Hoàng Hậu, sống ở Kinh Đô. Ông ta được vua cha và mẹ chăm bẵm chỉn chu, được học hành đến nơi đến chốn, lại được giao du rộng rãi. Lang Đà cũng có tài. Mượn thế giao du, ông ta lập nên các phường buôn. Chính ông ta đã góp công lớn tạo nên các thương cảng sầm uất xung quanh kinh đô Phong Châu. Đó là cảng Xốm ở tả ngạn sông Lô; đó là cảng Vẽ, cảng Gát dọc sông Hồng. Các bến cảng này nườm nượp người qua lại, thuyền bè rợp sông, xôn xao kẻ đổi người mua. Lang Đà là người giàu nhất trong các nhà Lang. Ông ta hậm hực:
- Thật bất công! Ta dâng trăm hộc vàng, chục đấu ngọc, 50 cỗ kiệu đầy ngà voi, sừng tê. Vua cha không đoái hoài gì đến. Tay Lang Liêu dâng hai thứ bánh quê mùa lại được Vua khen, lại hứa nhường ngôi cho! Vô lý! Thật vô lý!....
Mồm ông ta mắm lại, cằm bạnh ra, hàng râu quai nón xòe sang mang tai trông dữ dằn như mặt sư tử. Ông ta giậm gót chân phầm phầm, mồm sin sít: "Phá, phải phá! Ức không chịu được!".
Chính vì sự tranh giành phức tạp ấy mà mỗi lần Vua họp quần thần, bàn chuyện nhường ngôi, hàng chục tờ sớ dâng lên, hàng trăm thư nặc danh gửi tới. Thế mới biết đã ham hố quyền lực thì chẳng nể gì anh em (!). Mà đồng tiền phân bạc khi đã được đưa vào chạy chức chạy quyền thì nó làm mưa làm gió đến khủng khiếp. Nó làm cho bậc chí tôn anh minh cũng bất lực.
Thời ấy dân chủ lắm. Người nào cũng được bàn, được hỏi ý kiến. Nhiều ý khác nhau nên Vua cũng phân vân. Việc Lang Liêu kế vị vì thế mà lần khân mãi.
Lại nói về Lang Liêu, chàng hết sức thanh thản. Hàng ngày, chàng vẫn cùng mẹ và bà con nông dân lên rừng đốt rẫy, làm nương. Tóc chàng cháy quăn trong nắng tháng sáu. Tay chàng sần sùi chai cộm vì gieo hạt, tỉa cành. Tính chất phác và chăm chỉ của chàng khiến mọi người mến phục. Quây tụ quanh chàng nhiều người có tài và có học. Lang Liêu rất trọng họ: Có ý thì cùng bàn, có việc thì cùng làm, hiểu ý nhau lắm. Ví như chuyện Lang Liêu đi thăm nương lúa mộ. Thấy một đám lúa gieo mau quá, chàng xăm xăm vạch lá, nhổ bớt cây đẹn. Quen tay, chàng vứt những cây lúa thừa xuống thửa dộc chân đồi. Thửa dộc sâm sấp bùn. Những cây lúa ghẹ cắm chân xiêu vẹo trên lớp bùn lõng bõng. Chẳng ai để ý đến những khóm lúa bỏ đi ấy. Đến mùa thu hoạch, những cây lúa trên nương dé thì ngắn, hạt thì lép do thiếu nước. Nhưng đám lúa mà Lang Liêu vứt đi ngày nào lại trổ bông vàng song sóng. Lang Liêu bàn với bạn bè, mùa sau cắm một số cây lúa non xuống bùn xem sao. Lạ thay, lúa tốt chưa từng thấy. Qua mấy vụ vừa làm, vừa nghiền ngẫm, Lang Liêu cùng bạn bè đưa ra một cách trồng lúa mới: “Trồng lúa nước”. Các làng trong vùng náo nức làm theo. Lúa tốt bời bời, thóc thu về chật sân. Ai ai cũng nô nức, mừng vui. Việc đến tai Vua, Vua ngự giá về làng Lang Liêu. Vua đứng ngắm các con dân xắn quần, lội bùn, thoăn thoắt cấy lúa mà cứ ngỡ đang đứng ở xứ sở nào. Hàng trăm năm, hàng ngàn năm rồi, dân Văn Lang chỉ quen gieo tỉa, hái lượm, có ai làm như thế kia đâu? Vua vào ngự lãm các nhà dân. Lúa quây cót, chất cao chạm xà nhà. Vua mừng lắm, Người giao cho Lang Liêu đi khắp các làng chạ, dạy dân cày, bừa, gieo mạ, cấy lúa nước. Có vụ nhà vua còn xắn quần lội xuống ruộng, cấy lúa cùng dân làng kẻ Lú. Dân nhiều thóc, no đủ, làng chạ đầm ấm yên vui.
Có thể nói, việc Lang Liêu tìm ra cách làm lúa nước là một cuộc đổi đời của dân Nam. Vì việc ấy, Vua càng yêu Lang Liêu, quyết ý nhường ngôi cho.
Chuyện có vậy thì chẳng nói làm gì. Một số nhà Lang vẫn không phục. Họ cho rằng Lang Liêu quê mùa, cục mịch, làm vua cai quản họ là không được. Chí ít ra chàng cũng phải học hành bằng họ chứ? Nhìn thấy dân các mường, các chạ nô nức đón Lang Liêu, Lang Đà nghiến răng chèo chẹo:
-Thật là lũ nhà nông ngu dốt!
Dân Lạc Việt thì ước: "Giá mà hai Lang nhập làm một thì tốt quá!" - Điều ấy thì chẳng bao giờ có được!
Một năm kia, Lang Đà lập mưu mới. Ông ta cho gia nhân đóng giả các thương gia đến ấp của Lang Liêu gạ đổi thóc giống lấy hàng. Một con ngựa đáng đổi 50 thúng thóc, họ chỉ xin 40 thúng. Đáng lẽ 10 mủng gạo nếp mới được một xúc nhiễu hoa, họ chỉ nhận 8 mủng thôi!? Dân làng thi nhau đổi... Người nông dân nào thấy lợi mà chẳng hám? Bản tính đó đã là máu thịt của nhà nông rồi!
Lại nói về người nhà Lang Liêu. Nhân hôm chàng đi săn thú, ở nhà, quản gia cho đổi hết cả thóc giống. Mươi hôm sau, lại có mấy gã đến giao bán thóc nếp giống. Loại nếp có mùi thơm chưa từng có, lại dẻo nữa. Họ đồ một nồi xôi thật to, mời mọi người. Lang Liêu vốn thật thà, đổi ngay mấy giạ làm giống. Ai ngờ, vụ đó gieo mạ, mạ chẳng mọc. Thì ra thóc ấy đã bị Lang Đà rang chín mất rồi. Một vụ mùa lúa thất bát đổ lên đầu Liêu.
Hèm một nỗi, cứ độ xuân về, theo lệ, các nhà Lang phải dâng bánh để Vua cha tế tổ tiên. Đã mấy năm nay, Lang Liêu vẫn cẩn thận chọn gạo nếp cái - loại trắng nhất, hạt mẩy và đều nhất làm bánh chưng, bánh dầy dâng vua. Gạo phải do chính tay chàng sàng xảy. Lúa phải do chính tay vợ chàng gieo cấy. Năm nay, không một hạt gạo nếp trong nhà, biết tính sao đây?
Thấy chồng lo lắng quá, vợ Lang Liêu thẽ thọt thưa:
- Xin chàng yên lòng, thiếp đã có cách!
Lang Liêu vò đầu:
- Không được đâu! Nàng định đi vay gạo chứ gì? Không thể được! Làm như thế khác nào Lang Liêu tự bôi gio, rắc trấu lên mặt mình?!
- Không phải thế! Thiếp có cách rồi. Thiếp sẽ làm mấy loại bánh mới dâng Vua cha.
Vốn rất yêu và tin vợ, Lang Liêu hăm hở cùng xắn tay vào làm. Ban đầu, họ xay gạo tẻ thật nhuyễn, chờ lắng, lọc đi lọc lại mấy lần, được một thứ bột trắng ngà thơm như sữa. Vợ Lang Liêu cho bột vào nồi ráo qua. Khi bột chín tới, nàng đưa ra giữa sàn. Nàng rải lớp lá chuối non đã được hơ qua lửa, xới thứ bột đặc quánh, nghi ngút hơi nóng đặt lên lá. Nàng đã băm nhỏ thịt lợn nạc với mộc nhĩ, hành hương, xào mỡ để làm nhân bánh. Chiếc bánh được cuốn tròn lại, bên ngoài được bọc một lớp lá chuối khô, buộc lạt nhẹ tay, xếp vào góc mâm. Một loại bánh nàng làm dài như cẳng tay trẻ con, một loại bánh nàng làm mô lên trông như nắm tay người lớn. Bánh được luộc chín, tỏa mùi thơm ngào ngạt.
Ngày tết năm ấy, mâm cỗ nhà Lang nào cũng có bánh chưng, bánh dầy. Riêng cỗ nhà Lang Liêu không có. Lang Đà nhếch mép cười khẩy, hiêng hiếng mắt chờ Vua cha đi chấm cỗ.
Khi Vua hỏi: - Lang Liêu, Con làm thứ bánh gì mà lạ thế này?
Lang Liêu quỳ xuống phép thưa:
- Thưa Bố cái!Thứ bánh này được làm từ gạo tẻ, thứ gạo mà thường ngày ta vẫn nấu cơm ăn. Chỉ khác là được lọc kỹ trong ang. Thứ bột thơm thảo ấy như lòng chúng con muốn giãi bầy. Một thứ bánh con làm dài, tựa như dòng suối. Nó tượng trưng cho lòng mẹ trắng trong, ngọt ngào. Một thứ bánh con làm tựa như trái núi. Nó mang lượng cả bao dung, vững chãi của lòng cha. Chúng con muốn bên cạnh bánh chưng, bánh dầy tượng trưng cho Trời, Đất; còn có bánh tượng trưng cho lòng Mẹ, tình Cha. Kính mời Người nếm thử. Vua lệnh bóc bánh, khi lớp lá cuối cùng rơi, một lớp màng bánh xanh như ngọc, mát như thạch hiện ra. Một mùi thơm ngào ngạt tỏa lan. Hoàng hậu cầm miếng bánh rưng rưng. Vua Hùng và các quần thần được cắn miếng bánh sần sật, đậm đà hương đồng quê mà khen nức nở...
Thế rồi, Vua cho bố cáo khắp thiên hạ, cách làm hai thứ bánh mới. Vua đặt cho loại bánh dài tên là Bánh Tẻ, loại bánh nhô cao tên là Bánh Giò. Vua còn cho phép các bậc con cháu được tùy thích khi rỗi rãi làm bánh để dâng lên cha mẹ hoặc biếu cha mẹ khi ốm đau.
Mà cũng lạ, những bậc cao tuổi, khi răng đã yếu, miệng đã khô, nuốt miếng cơm đã khó nhọc, được ăn hai thứ bánh ấy thì dễ nuốt làm sao, người cứ khỏe ra. Các cụ cầm chiếc bánh trên tay, thấy cái xanh mát của Trời, thấy đủ sản phẩm của Đất và nhất là thấy trọn lòng hiếu thảo của cháu con! Hai thứ bánh thật dân dã, làng chạ nào cũng có, dân mời nhau, cho nhau, đổi bán nữa. Con cháu trăm nơi đua nhau làm bánh thể hiện lòng thảo và bàn tay khéo léo. Nhà Vua thanh thản ngắm trăm họ thái bình. Vua có lệnh truyền: "Chọn ngày đẹp phong Lang Liêu là người nối ngôi".
Lang Đà nghe tin ấy, uất nghẹn lên, ngã vật ra, cấm khẩu, cả triều đình đổ dồn vào việc cứu chữa. Việc Lang Liêu lên ngôi còn chưa biết ngã ngũ ra sao, chỉ biết rằng khắp nước Văn Lang, người dân đều thầm cám ơn chàng bởi chàng đã làm ra hai thứ bánh để họ cúng tổ tiên; lại cho hai thứ bánh để biếu cha già, mẹ yếu.
Lang Liêu làm vua trong lòng dân từ rất lâu trước khi có lễ lên ngôi.
Ngọc phả ở Đền Hùng có mấy dòng ghi thế!
Làng An Thị - Mùa Đông
Đ.H