LÂM TIẾN
Trong Nghị quyết 23 NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 16-6-2008 về "Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới" có câu "Có chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết, văn học - nghệ thuật các dân tộc thiểu số" và "Tổ chức nghiên cứu, quán triệt cho đội ngũ văn nghệ sĩ". Trong câu này tôi đặc biệt quan tâm tới từ "quán triệt". Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2006 thì "quán triệt" có nghĩa là "hiểu thấu đáo và thể hiện đầy đủ trong hoạt động". Với ý nghĩa đó thì việc quán triệt Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị vào thực hiện "chính sách đặc biệt hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, chữ viết, văn học - nghệ thuật các dân tộc thiểu số", trong đó có văn học hiện đại dân tộc thiểu số còn nhiều khoảng cách. Dẫn tới chỗ từ khi Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ra đời đến nay, văn học hiện đại dân tộc thiểu số không những không phát triển mà có phần còn chững lại, nếu không muốn nói là kém phát triển hơn trước.
Khoảng cách đầu tiên dễ nhận ra là tín hiệu văn học hiện đại dân tộc thiểu số trong những sách viết về văn học hiện đại Việt Nam, trong đó có sách giáo khoa phổ thông, giáo trình đại học lúc có lúc không và thường là sơ sài. Tôi nói tín hiệu vì văn học hiện đại dân tộc thiểu số chưa bao giờ là một thực thể trong những cuốn sách này. Mặc dù về nhận thức, ai cũng biết văn học hiện đại dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể thiếu của văn học hiện đại Việt Nam. Sở dĩ có tình trạng này, là ngoài sự chỉ đạo lỏng lẻo của người biên soạn sách, còn phụ thuộc vào sự hiểu biết, sự quan tâm nhiều hay ít và cả tư tưởng, thái độ của người viết đối với mảng văn học này. Trong cuốn
Lịch sử văn học Việt Nam tập V 1930 - 1945. Nxb Giáo dục 1973: Bùi Huy Phồn, Tú Mỡ và Hoàng Đức Hậu (Tày) được giới thiệu như ba nhà thơ hiện thực phê phán tiêu biểu của thời kỳ này, thì đến cuốn
Văn học Việt Nam 1900 - 1945 cũng của Nxb Giáo dục ấn hành năm 2010, Hoàng Đức Hậu vắng bóng hẳn trong cuốn sách này; Cuốn
Văn học Việt Nam thế kỷ XX của Nxb Giáo dục 2005 về thơ dân tộc thiểu số chỉ vẻn vẹn có tên của hơn chục nhà thơ với một câu như sau: "Chưa bao giờ các tác giả sáng tác về quê hương mình, dân tộc mình với một niềm tự hào, một động lực luôn luôn thôi thúc về một cuộc đời nhiều hứa hẹn như thời kỳ này" (Câu của Lâm Tiến - chú thích tác giả cuốn sách).
Trong sách giáo khoa cũng vậy, phần "Khái quát văn học Việt Nam lớp 12 năm 2000" của Nxb Giáo dục viết về văn học hiện đại dân tộc thiểu số như sau: "Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ cứu nước, thời kỳ nào cũng có những đóng góp của các nhà văn thuộc nhiều thế hệ: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Y Phương", nhưng đến sách giáo khoa lớp 12 năm 2010, câu viết ít ỏi đó cũng không còn.
Bài thơ
Dọn về làng của Nông Quốc Chấn, được tác giả trong cuốn
40 năm văn hóa, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945 - 1985 của Nxb Văn hóa 1985 đánh giá "xứng đáng ngang hàng những bài thơ xuất sắc trong nền thơ Việt Nam kháng chiến" (tr. 210), nên trước năm 1990 bài thơ này còn được dạy ở trường phổ thông. Sau đó không được dạy nữa và đến nay nó trở thành bài đọc thêm trong 30 phút. Cùng với 1 tiết dạy bài
Nói với con của Y Phương ở trung học cơ sở. Đó là toàn bộ những tín hiệu văn học hiện đại dân tộc thiểu số được hiện diện trong sách giáo khoa trung học cơ sở và trung học phổ thông hiện nay.
Từ khoảng cách đó, dẫn tới khoảng cách thứ hai, khoảng cách giữa người đọc, người học với văn học hiện đại dân tộc thiểu số, nhất là đối với người học. Khoảng cách này không chỉ diễn ra ở miền xuôi, mà ngay ở miền núi, ở những nơi mà các nhà văn, các tác phẩm văn học hiện đại dân tộc thiểu số có mặt, thì học sinh, sinh viên miền núi rất ít người biết đến nhà văn, tác phẩm văn học của dân tộc mình. Bởi vì ở khoa văn và văn - sử ở các trường đại học và cao đẳng, không có một tiết nào dạy về mảng văn học này. Cao Bằng là một tỉnh miền núi có sự nghiệp phát triển văn học - nghệ thuật dân tộc thiểu số nhất cả nước, thế mà nhiều sinh viên Tày, Nùng, Dao... ở Cao Bằng không biết nhà văn dân tộc nào ở tỉnh họ. Cao Bằng còn như thế thì học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác sẽ như thế nào.
Điều đó không chỉ diễn ra ở các trường phổ thông miền núi thông thường, mà ngay cả các trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có những trường dân tộc nội trú lớn, nổi tiếng như trường phổ thông trung học vùng cao Việt Bắc, trường Dự bị đại học dân tộc Trung ương... Ở những trường này, một giờ ngoại khóa về văn học hiện đại dân tộc thiểu số cũng không hề có, khiến cho những học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số ngộ nhận văn học hiện đại Việt Nam chỉ có văn học Kinh. Sở dĩ có tình trạng trên, là do quan niệm và thể chế giáo dục - đào tạo hiện nay, việc dạy, học rất thực dụng và chạy theo thành tích, nên họ chỉ dạy những nội dung nào đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định, phục vụ cho việc kiểm tra và thi cử (về mặt này văn học hiện đại dân tộc thiểu số chưa hề có một câu nào trong đề thi và kiểm tra ở các trường phổ thông và đại học, đề thi vào các trường chuyên nghiệp). Còn các chương trình khác dù có thiết thực đến đâu họ đều bỏ ra ngoài lề. Đây là một điều rất đáng suy nghĩ, khi mà những học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số ngơ ngác, xa lạ với văn học hiện đại của dân tộc mình.
Song có điều lạ, mặc dù văn học hiện đại dân tộc thiểu số không có trong chương trình, giáo trình dạy ở các trường đại học và cao đẳng, nhưng những năm gần đây những luận văn tốt nghiệp, những luận án thạc sĩ, tiến sĩ, những đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp viện về mảng đề tài này lại nở rộ. Điều đó rất đáng mừng, nhưng cũng có những điều đáng suy nghĩ. Mừng vì văn học hiện đại dân tộc thiểu số bắt đầu được nhiều người qua tâm, tìm hiểu, khám phá, nó là mảnh đất mới mẻ, mầu mỡ để nuôi dưỡng những đề tài này. Song do chưa được chuẩn bị từ trước (trong đó có tác phẩm, tài liệu tham khảo...) chưa được giảng dạy và học ở trong trường, nên cả người hướng dẫn và người thực hiện đề tài cùng đều bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu mảng đề tài này, nên không sao tránh khỏi những khó khăn, những khoảng trống trong kiến thức, những nhầm lẫn trong đánh giá, những lẫn lộn giữa tác giả, tác phẩm... Chẳng hạn: cho bài thơ
Thác Quan Làng của Hoàng Đức Hậu là của Nông Minh Châu; bài thơ
Mùa hoa của Y Phương là của Dương Thuấn; cho thơ của Hoàng Đức Hậu là những câu sli; câu thơ của Y Phương "
Ai cho mùa măng nhọn thế này/ Đỏ như mắt nhớ, mập như tay" là câu phong slư của một nhân vật trữ tình; cho Triều Ân là nhà thơ của Bắc Kạn; cho Nông Quốc Chấn là nhà thơ Tày đầu tiên, tiên phong trong việc hiện đại hóa thơ ca dân tộc Tày (họ quên hoặc không biết có Hoàng Đức Hậu); cho bài thơ
Việt Bắc đánh giặc của Nông Quốc Chấn in năm 1948 lại dựng được cả thời kỳ kháng chiến chống Pháp 9 năm... Những dẫn chứng, những đánh giá thiếu chính xác như vậy, lấy gì để bảo đảm tính khoa học, tính nghiêm túc của công trình nghiên cứu. Thế mà những luận văn, những luận án, những công trình nghiên cứu như vậy vẫn được các hội đồng khoa học đánh giá cao với điểm 9, điểm 10. Nhưng điều đáng nói hơn là những công trình này không phải là phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn văn học hiện đại dân tộc thiểu số ở các trường đại học và phổ thông, mà chủ yếu là để lấy bằng tốt nghiệp, nhận học vị thạc sĩ, tiến sĩ, phong hàm giáo sư, phó giáo sư...
Những khoảng cách đó đã kéo dài từ lâu nhưng vẫn không có ai quan tâm điều chỉnh nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển văn học hiện đại dân tộc thiểu số. Bởi vì, nhà văn nào cũng được đào tạo qua nhà trường phổ thông và đại học. Nhưng với một chương trình đào tạo, với những sách viết về văn học hiện đại Việt Nam như vậy, thì lấy gì để họ hiểu biết về văn học của dân tộc mình, có cảm hứng sáng tạo và thể hiện bản sắc dân tộc trong văn học. Nên đội ngũ trẻ viết văn người dân tộc thiểu số ngày càng ít đi, và bản sắc dân tộc trong một số tác phẩm văn học của họ cũng phai mờ dần, thậm chí không còn cũng là điều dễ hiểu.
Về phía Hội Văn học - nghệ thuật các dân tộc thiêu số Việt Nam, cho tới nay vẫn chưa xác định rõ vai trò, vị trí văn học hiện đại dân tộc thiểu số, chưa làm rõ những tác giả, tác phẩm nào thuộc về dân tộc thiểu số, những tác giả, tác phẩm nào không thuộc về họ (mặc dù tác giả đó xuất thân từ dân tộc thiểu số). Ngay cả một đề tài nghiên cứu khoa học cấp viện của Viện văn học về "Thơ dân tộc ít người giai đoạn 10 năm cuối thế kỷ XX - truyền thống và hiện đại" 2007 còn lẫn lộn (cho Vi Thùy Linh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của dân tộc Tày) thì làm sao làm rõ được vấn đề này. Theo tôi việc xác định khái niệm văn học hiện đại dân tộc thiểu số và bản sắc dân tộc trong văn học hiện đại dân tộc thiểu số giữ một vai trò cực kỳ quan trọng trong định hướng sáng tác và xây dựng, phát triển mảng văn học này. Chỉ có trên cơ sở đó mới xác định được đâu là lực lượng cần được bồi dưỡng, đâu là tác giả, tác phẩm cần được quan tâm, từ hội thảo, đầu tư, giải thưởng, cho tới bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ như tổ chức thường xuyên những trại sáng tác như đã làm ở trung ương cũng như ở khu vực, tổ chức những hội nghị, hội thảo về mảng văn học này, về những tác giả, tác phẩm văn học hiện đại dân tộc thiểu số được giải cao, tổ chức cho tác giả, nhà văn dân tộc thiểu số thâm nhập thực tế cuộc sống hoặc ra nước ngoài, quảng bá những tác phẩm của họ..., để làm sao ngày càng nhiều các dân tộc thiểu số có được chủ thể sáng tạo của dân tộc mình, để những dân tộc đã có nhà văn nâng cao trình độ tư tưởng và tài năng sáng tạo. Nói như vậy, tôi không hề đánh giá thấp những tác phẩm của người Kinh viết về dân tộc và miền núi. Những tác phẩm đó đã góp phần vào sự hình thành văn học hiện đại dân tộc thiểu số, nhưng không quyết định sự tồn tại và phát triển của mảng văn học này.
Tôi đã trình bày những vấn đề có liên quan và ảnh hưởng tới việc phát triển văn học hiện đại dân tộc thiểu số. Tất cả những ý kiến trong bài viết này đều dựa trên cơ sở thực tế, trên cơ sở phân tích cụ thể trong tình hình cụ thể để từ đó góp phần xác định đường hướng cho sự phát triển văn học hiện đại dân tộc thiểu số Việt Nam trong thời kỳ mới như Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã đề ra.
Tháng 05-2011
L.T