08:31 ICT Chủ nhật, 20/04/2014

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình

Thi pháp ngôn ngữ thơ Dương Kiều Minh

Thứ hai - 24/09/2012 13:47
Tapchinhavan.vn- Dương Kiều Minh ít làm thơ “cách luật” mà thường làm thơ tự do và sau này thiên về thơ văn xuôi. Thể loại thơ văn xuôi có khả năng nới rộng hơn hiện thực cuộc sống được miêu tả, đồng thời giúp ông dễ bề thể hiện một cách thoải mái hơn “dòng ý thức” của mình, khai phá những bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.
HOÀNG KIM NGỌC
 
 
Thi pháp ngôn ngữ thơ DƯƠNG KIỀU MINH
 
 


 
Thi sĩ Dương Kiều Minh (DKM: 1960-2012) đã xuất hiện như một sứ giả để ghi lại những vui buồn, ám ảnh cõi người, những giấc mơ tâm linh đồng hành với chuyển động của vũ trụ và vẻ đẹp của thiên nhiên... Ông đã tạo dựng một không gian và thời gian riêng cho thơ mình - điều đó đã làm nên một giọng điệu mới không chỉ cho riêng ông, mà cùng với một vài gương mặt tiêu biểu khác, mở đường cho khuynh hướng thơ đổi mới, hiện đại. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ miêu tả trong thơ ông, nhằm mục đích qua đó, tường giải và nhận chân rõ rệt ngôn ngữ - thi pháp thơ DKM.
 
I. Thời gian nghệ thuật
Hình tượng thời gian nghệ thuật luôn mang tâm lí và quan niệm chủ quan của tác giả về thời gian. Nó là phương tiện nghệ thuật sinh động để phản ánh tâm tư, thể hiện những ám ảnh, cảm xúc thẩm mỹ và ý thức về thời gian của chủ thể trữ tình.
1. Các đơn vị thời gian xuất hiện trong thơ Dương Kiều Minh
Đọc thơ Dương Kiều Minh, chúng tôi thấy những đơn vị đo đếm thời gian xuất hiện với tần số lớn. Cảm thức thời gian ở đây đã bao trùm lên từng trang viết của ông. Ông hay suy tưởng, đếm thời gian để ngẫm ngợi và tự trải nghiệm trong các giai tầng cảm xúc. Từ những đơn vị thời gian ngắn nhất được tính bằng sát na đến những đơn vị thời gian dài nhất được dồn nén bằng kiếp người, bằng thế kỉ.
Đơn vị thời gian trong thơ DKM thường kết hợp với các số từ và các thành tố phụ bao quanh nó nên đã tạo thành những mốc thời gian cụ thể, rõ ràng, ít tính ước lệ. Chẳng hạn: hai giờ rưỡi sáng, ba giờ sáng, 9 giờ 10, ngày mùng 8 tháng 4, tuần đầu tháng 4, 90 ngày, 100 ngày, 364 ngày, cuối năm Đinh Hợi, đầu xuân 2010, đầu xuân 2011, 9 năm, 33 năm, ba bảy tuổi... Những mốc thời gian ấy vừa mang tính quan niệm, vừa là thủ pháp nghệ thuật thường thấy trong truyền thống thơ phương Đông. Trong thơ ông, các tuyến thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai đan xen nhau, có lúc đảo tuyến: “Hương mùa thu dậy khu vườn mùa hạ” (tr. 308). Vì thời gian khác nhau kéo theo không gian khác nhau nên các thi ảnh thường đồng hiện, chồng lấn mà DKM gọi là “ký ức xếp chồng mùa” (tr. 296), tạo ra lớp lớp những thông điệp chuyển tải tâm trạng của cái tôi trữ tình. Và cũng có lẽ bởi chịu ảnh hưởng một phần của thi pháp thơ cổ điển phương Đông (như DKM đã có lần tự bạch: “Tôi ngủ thiếp trong bài thơ Đường”) nên ông thường ưu tiên cho thời quá khứ, được thể hiện dưới dạng thời gian kí ức (hồi tưởng, vọng niệm...).
Trước DKM, Nguyễn Bính cũng là người hay dùng số từ để đếm nhưng đó thường là những con số ước lệ (đôi, vài, dăm, trăm, nghìn...), nếu có những con số cụ thể thì thường nói về sự tương tư nhung nhớ người tình: Tương tư một đêm năm canh chẵn/ Nhớ nhung một ngày mười hai giờ (Ái khanh hành) hoặc: Chờ mong như suốt đêm qua/ Chàng ơi một tháng là 30 ngày (Chờ mong). Trong bài Tập đếm của Nguyễn Trọng Tạo cũng có những đơn vị thời gian cụ thể như 24 tiếng, mỗi ngày, cả tuần nhưng cũng xuất hiện từ tâm lí ngóng đợi mỏi mòn của những kẻ yêu nhau. DKM ít viết thơ tình (có lẽ ông bị ảnh hưởng tâm thức Nho gia), bởi thế những con số chỉ thời gian cụ thể trong thơ DKM thường là những mốc tâm trạng quan trọng để nhà thơ thể hiện lòng yêu mến thiên nhiên tạo vật bốn mùa xuân, hạ, thu, đông hay tâm trạng cô đơn đau đáu với câu hỏi về lẽ tồn sinh của kiếp người, nỗi niềm vọng niệm về cố hương, cha, mẹ, người thân hoặc về những nơi mà nhà thơ đã từng đi qua in dấu ấn cuộc đời. 
2. Biểu tượng thời gian đêm
 Thời gian trong thơ chính là sự phản ánh một cách rõ ràng tâm trạng của nhà thơ và nó cũng là yếu tố tạo nên phong cách riêng của tác giả. Những từ đêm, đêm đêm, đêm khuya, nửa đêm... đã tái hiện một lớp thời gian ám ảnh của tâm trạng, chúng có mặt ngày càng nhiều trong các tập thơ về sau, khi ông đã chớm bước vào tuổi già và bệnh tật hoành hành. Thời khắc buổi đêm là khởi điểm của tâm trạng rõ nét nhất. Con người như tự đối thọai với những nghiệp nhân, nghiệp quả do bản thân tạo ra trong đời sống bình nhật. Không gian như đi vào tĩnh lặng thì tâm trạng của con người cũng vận động trong cô đơn não lòng. Người thường thức giữa đêm, cảm nhận được bước đi thời gian là con người có nhiều nỗi buồn. Ông khá am tường triết học phương Đông, có những hiểu biết sâu sắc về Phật giáo, luôn biết đời người là ngắn ngủi, mong manh:
- Đời người thóang qua như một cơn say (tr. 364).
- Đời người là một giấc mộng không hơn một giấc mộng? (tr. 430).
- Ô hô, thiên thu/ Chớp mắt, chớp mắt (tr. 434).
Cảm thức về thời gian của một đời người thường ám ảnh DKM. Điều mà ông tâm đắc, mê dụ gần với sự sắc sắc không không của đạo Phật, những cần và đủ cho một đời người, để rồi thấy mọi sự dường như là hư vô và dự cảm những báo động xã hội khi con người nhân thế bị lôi cuốn vào vòng quay của nhịp sống hiện đại với sự chen lấn xô bồ của thế giới vật chất. Ông viết:
Ta chợt thấy hoang mang con người cuốn mất tăm vào thế giới vật chất, không hiểu để làm gì. Ân huệ hay gánh nặng (tr. 455).
Đó là những câu thơ viết ra sau một đời trải nghiệm cho thấy mọi sự đều phù du, hão huyền khi con người bị dòng hải lưu của đời sống vật chất cuồn cuộn cuốn đi. Câu thơ trên mang ý nghĩa thiền - một tâm thế thiền đương đại.
DKM gần gũi với thiên nhiên và nhận thức quy luật tuần hoàn của đời người từ trẻ đến già, buồn vui giao thoa giống như sự vận động của thiên nhiên từ ngày sang đêm, từ xuân sang đông. DKM có những quy ước về thời gian rõ ràng. Trong thơ ông, buổi sớm, buổi trưa, mùa hạ thường là những tín hiệu thẩm mỹ để nói về niềm vui dạt dào hoặc tuổi ấu thơ, trai trẻ. Còn thời khắc cuối ngày, buổi chiều tối, đêm khuya, mùa đông lại là những tín hiệu thẩm mỹ nói về tuổi già hoặc nỗi đau buồn:
- Mẹ già nua như những buổi chiều  (tr. 24).
- Nỗi đau như đêm tối ùa về (tr. 41).
- Tuổi già từng ngày từng ngày như ánh chiều lấn vào bóng đêm (tr. 356).
3. Biểu tượng thời gian mùa xuân và mùa thu
Bốn mùa thời gian luôn đủ mặt trong thơ ông với những cảm hứng và tâm trạng khác nhau. Mùa xuân với “hội hè đình đám”, đất trời tràn đầy sinh khí. Mùa hè, thiên nhiên thường rực rỡ vui vẻ.
Ông quan niệm tâm trạng của thi nhân cũng biến đổi theo mùa: Xuân sinh - hạ trưởng - thu liễm - đông tàng (tr. 243) (mùa xuân là mùa sinh sản, mùa hạ tăng trưởng, mùa thu thâu rút lại, mùa đông ẩn tàng chất chứa).
Bước vào tuổi ngũ tuần tôi chợt nhận ra rằng, cái dinh dưỡng đời sống tinh thần của các nhà Nho Á Đông là sự chuyển động của mùa, thiên nhiên biến đổi theo mùa luôn mới mẻ và sinh động (tr. 558).
Trong thơ DKM, thiên nhiên, thế giới ngoại cảm và chủ thể trữ tình, thế giới nội tâm luôn hòa điệu trong mối tương thông tương cảm. Tâm thức Nho, tâm thức thơ cổ điển được khóac một vỏ bọc hiện đại trong cách diễn đạt.
Tần số từ chỉ mùa trong Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh xuất hiện rất cao: 535 lần. Mùa xuân: 198 lần, mùa hạ, 95 lần, thu: 156 lần, đông: 86 lần. Như vậy, trong 4 mùa, DKM lại dành cho mùa xuân và mùa thu nhiều cảm hứng hơn. Có lẽ vì yêu mến thơ Đường, kính trọng Lý Bạch với bài Xuân tứ nổi tiếng, yêu mến dòng thơ Thiền với thiền sư Huyền Quang - người thích viết về mùa thu (hai nhà thơ này đã được DKM trân trọng dành cảm xúc trong tuyển tập thơ của mình) mà DKM thích học tập các vị ấy viết về mùa xuân và mùa thu chăng?
Trong tập thơ Tôi nhớ mãi những ngày thu tậnKhúc chuyển mùa, các từ xuânthu lại có số lần xuất hiện vượt trội so với 6 tập còn lại. Có thể thấy, càng nhiều tuổi, DKM càng tìm về với quan niệm và cốt cách của các nhà Nho Á Đông, với triết lí phương Đông, thích gần gũi giao hòa với thiên nhiên vũ trụ. Mùa xuân, mùa thu đã chở nặng nỗi niềm và đã trở thành niềm xuân, niềm yêu, niềm thống hối, niềm vọng niệm, niềm thu, vẻ thu, tấm thu, khúc thu,...
Thời gian và không gian trong thơ DKM là cặp phạm trù đồng hiện, song hành cùng nhau, hòa quyện lấy nhau. Trong thời gian có không gian và ngược lại. Việc mổ xẻ, thống kê con số chỉ nói lên phần nào tần số xuất hiện của cặp phạm trù này, qua việc tổng kết những trường từ vựng ưa dùng, có thể tiếp cận tâm thức, trạng thái tình cảm với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau của DKM.
 
II. Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật cũng là một phương diện quan trọng của thi pháp. Nó là phương tiện để tác giả gửi gắm các hình ảnh quan trọng mang ý nghĩa biểu tượng chiếm lĩnh tâm hồn, tư tưởng của chính họ.
DKM đã nhiều lần nhắc đến “một không gian rộng lớn”, “không gian vô tận”. Đấy là không gian phồn sinh của miền núi, trung du và miền thôn dã châu thổ sông Hồng với những đặc trưng phong phú riêng biệt. Thế giới hình tượng của thơ ông cũng rất đa dạng, nhưng trong đó nổi bật lên 3 hình tượng trung tâm: con đường, cánh đồng, người mẹ.
1. Biểu tượng con đường
Hình ảnh con đường đã làm nền không gian vũ trụ trong thơ DKM, một “thế giới phi sắp đặt” đã “dần dần hiện ra theo con đường dưới sự chỉ dẫn của cảm xúc và tưởng tượng thi ca”. Theo thống kê của chúng tôi, thi ảnh “con đường” xuất hiện trong Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh tới 237 lần (trong đó ở tập Củi lửa là 9 lần, tập Dâng mẹ: 14 lần, tập Những thời đại thanh xuân: 4 lần, tập Ngày xuống núi: 11 lần, tập Tựa cửa: 33 lần, tập Tôi ngắm mãi những ngày thu tận: 102 lần, Khúc chuyển mùa: 64 lần). Riêng tập thơ “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận” viết những năm cuối đời thì hình ảnh con đường xuất hiện nhiều hơn, bởi ngoài nghĩa đen, nhà thơ đã chuyển nó thành nghĩa ẩn dụ cho cuộc hành trình của một kiếp đời.
Ông nhận thấy cuộc đời này có hai loại đường: con đường có thực, cụ thể, theo nghĩa gốc, nghĩa đen mà nhà thơ đã bước chân đến: Con đường vào núi, con đường ven núi hoa dại nở trắng xóa, con đường dốc, con đường sỏi và đá gan gà, con đường màu đất hung hung, con đường lầm bụi công trường v.v...
Con đường trừu tượng theo nghĩa chuyển, nghĩa ẩn dụ: Đường đời, đường trần mịt mùng khổ ải, đường trần thong dong, con đường định mệnh, con đường dài dặc, con đường gió bụi xa xăm, con đường xuân nao nức, con đường thanh cao, con đường xao nhãng, con đường cổ nhân, con đường gia tộc v.v...
Hình ảnh con đường đã trở thành hầu biểu tượng trong thi ca nhân loại nhưng có lẽ DKM cũng là một trong những nhà thơ Việt Nam viết nhiều nhất về con đường. Nó đã trở thành một ám tượng và biểu tượng của thơ ông. Có bao nhiêu định ngữ cho danh từ “con đường” là có bấy nhiêu cách diễn đạt và miêu tả phong phú về con đường như là không gian khách thể và không gian tâm tưởng. Trên những con đường, ông luôn tự nhận mình là khách bộ hành, mãi mãi là lữ khách “đường xa một mình một bóng”. Đây chính là cuộc hành trình để tìm đến đích cuối cùng của đời người, để đến với hạnh phúc, chân lí sau khi đã đốn ngộ.
2. Biểu tượng cánh đồng
Không gian trong thơ DKM hiện lên với nhiều thi ảnh nhưng nổi bật nhất là hình ảnh cánh đồng cỏ hoa và một thế giới tràn ngập màu sắc, thanh âm, mùi vị tạo sự “tương ứng của các giác quan”. Tất cả được tái hiện bằng ngôn từ đẹp, trong trẻo và buồn.
2.1. Thế giới cỏ hoa
Không gian cánh đồng trong thơ ông tràn ngập cỏ cây hoa lá, hoa luôn là đối tượng thẩm mĩ của cái đẹp, có lẽ không nhà thơ Việt Nam nào nói về sự có mặt của các loài hoa nhiều hơn DKM. Theo thống kê của chúng tôi, khoảng hơn 50 loài hoa có mặt trong thơ ông: hoa cỏ, hoa đồng nội, hoa không tuổi tên, hoa dại, cúc dại, hoa cải, hoa cải cúc, hồng dại, hoa bưởi, mận, đào, táo, nhãn, hoa gạo, hoa sể, hoa lim, phượng vĩ, v.v...
Tỉ lệ những loài hoa dại, không tuổi tên và những loài hoa nhỏ bé, bình dị, quê kiểng có mặt trong thơ ông nhiều hơn các loài hoa sang quý, chúng đều gợi cho ông sự chạnh lòng, niềm trắc ẩn, nỗi hoài vọng về một cố hương đẹp mà nghèo:
- Buồn nẫu ruột bên đường bụi hoa hoang dại mùa xuân nở trắng (Niềm vọng niệm).
- Những bông hoa đồng nội mỏng mảnh quên lãng đua nhau nở bên bờ quê như nhắc nhớ sự đơn sơ đạm bạc... (Chạnh niềm thôn dã).
Ông luôn quan sát thiên nhiên theo quan điểm của người phương Đông: tản điểm. Đôi mắt nhà thơ phóng chiếu mọi tầng không gian, khi ngước lên cao thấy bóng các cây cổ thụ, thấy “đỉnh đồi”, “đỉnh núi”, “đỉnh trời”, “đỉnh chiều”(tr. 503) và khi nhìn xuống thấp, tâm hồn đa cảm, tinh tế đã khiến ông rưng rưng cảm thương cả những nụ, bông bé nhỏ nằm sát mặt đất:
- Những bông hoa khế nhỏ xíu tím nhạt rơi đầy trên nền đất (tr. 400).
- Kìa, những nụ hoa bé tí xíu nhú lên như những hạt tấm  (tr. 420).
Có những tên hoa có lẽ chỉ xuất hiện trong thơ ông như một bản quyền hoa:
- Xa xa núi/ Xa xa mùa hoa khói (tr. 76).
- Đỏ lùm hoa phương đình (tr. 280)...
2.2. Thế giới màu sắc
Tần số xuất hiện các từ chỉ màu sắc trong thơ DKM là 239 lần với đủ sắc màu cơ bản: trắng, xanh, đỏ, tím, vàng, có gam nóng, gam lạnh. Ngoài ra còn có cả các màu pha: nâu, xám, hung hung, nhờ nhờ... Chúng góp phần thể hiện đầy đủ và diễn tả rất đúng các cung bậc vui buồn trong tâm trạng của thi nhân. Những màu “xấu” (đen, xám) có mặt nhiều ở giai đoạn sau, khi tuổi già và bệnh tật ập đến, ở tập thơ Những thời đại thanh xuân viết khi còn trai trẻ không có những màu này. Trong “bảng màu” của ông, ta thấy tần số xuất hiện màu trắngxanh tương đương nhau và nhiều hơn các màu khác. Đây là hai màu chủ đạo. Vì thế, thơ ông thiên về gam lạnh, mát mẻ, nhẹ nhàng, trong trẻo và buồn [(ngay cả màu tím của ông cũng thường lạnh: (hoa khế) tím nhạt, (hoa lau) tím lạnh]... Cảm quan phương Đông cũng ảnh hưởng tới màu sắc của DKM. Thơ Thiền thường tránh những màu rực rỡ. Đặc biệt, ông thường chọn những gam màu lạnh để làm nền cho việc diễn tả tâm trạng nhói buồn, xa xót:
- Hoa nở trắng buồn hơn mùa xuân trước (tr. 141).
- Vòm hoa trắng rợn góc rừng (tr.197).
- Ta già rồi/ Màu xanh trào nước mắt (tr. 353).
- Màu xanh rưng rức dậy buồn (tr. 54).
- Tôi sợ heo may trở về/ Những bông lau tím lạnh phất nỗi sầu dằng dặc (tr. 475).
DKM rất tinh tế trong miêu tả màu sắc. Từ những màu nguyên cơ bản, ông đã tạo ra các màu với sắc độ khác nhau, cảm xúc khác nhau bằng cách kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ, sắc thái; có bao nhiêu kết hợp là có bấy nhiêu biên độ sắc màu. Đặc biệt, sắc màu luôn luôn được biến đổi qua lăng kính của tâm trạng.
Trong 2 tập thơ cuối: Tôi ngắm mãi những ngày thu tậnKhúc chuyển mùa thì gam màu lạnh thường lấn át màu nóng. Trong cảm quan nghệ thuật của ông, màu nóng bao giờ cũng vui vẻ, màu nóng ở hai tập thơ này chỉ xuất hiện như một tín hiệu thẩm mỹ màu để chỉ thời thanh xuân trai trẻ mà nhà thơ vọng niệm, hoặc nó chỉ hiện ra trong khung cảnh đơn độc (là bông hoa gạo sót lại cuối mùa, là bụi gai có một bông hoa đỏ xía lên trời...). Vì thế âm hưởng thơ của DKM càng về sau càng buồn bã, càng lạnh lẽo.
2.3. Thế giới mùi vị
Trong không gian rộng lớn của cánh đồng, có vô số mùi vị. Khứu giác tinh tế đã khiến ông thưởng lãm đủ mùi vị của thiên nhiên, của hoa trái cỏ cây, của cuộc sống thanh bình thôn dã: mùi men rượu, củ cải, sả, sung chín, bưởi chín, cỏ cháy, rơm rạ, lá sen già, lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ, mùi thơm ngát hạt gạo nếp trắng ngần, mùi cây vườn vắng hăng hăng, v.v...Và chỉ có tâm hồn nhạy cảm, ông mới cảm được mùi sương, mùi nước, mùi bẳn gắt, mùi tết nhất nghèo khó nồng nàn tinh khiết, mùi vị của ảo giác, mùi vị khí thu, vị hương tinh khiết của nắng và thậm chí cả mùi của thời gian (tr. 394) nữa... 
Nếu như Đoàn Phú Tứ có màu thời gian. Appollinaire, nhà thơ lãng mạn Pháp - người đã phát hiện ra hương thời gian qua bài “Mùa thu chết”: Ôi, ngát hương thời gian mùi hoa thạch thảo thì DKM lại có mùi thời gian (như vậy, thời gian đã thực sự trở thành chiều thứ tư của không gian). Người thơ phải đạt tới độ tinh tế lắm mới cảm nhận hết được mùi vị của thời gian trong không gian. Ông không chỉ cảm thức được mùi mà còn lắng nghe mùi. Điều đó cho thấy một không gian thơ ông đa chiều, có bề nổi, có chiều lặn thâm trầm, có chiều lửng lơ. Nói theo giọng điệu nhà Phật thì thơ ông vẽ nên được nhiều cõi. Con người đạt tới độ vô vi mới cảm quan được nhiều cõi, nhiều cảnh giới thơ như thế. Và chính vì vậy mới thấy sự cô đơn mãnh liệt của DKM, điều đó chỉ ra rằng thơ là nhựa sống đời ông, nó cần thiết như khí trời. Chỉ cô đơn cùng cực mới tạo nên những sáng tạo tuyệt đối, tinh khiết. Thơ DKM có một nỗi cô đơn như thế. Có thể nói thời gian lạnh, thời gian cô đơn và không gian lạnh, không gian cô đơn vừa là cái tạng thơ, vừa là một quan niệm nghệ thuật của ông.
2.4. Thế giới âm thanh
Không gian thơ DKM ngập tràn các dàn, bè âm thanh của thiên nhiên, cuộc sống: tiếng cún con sủa vu vơ vỡ giọng, tiếng dế, tiếng két đồng, tiếng tước đồng, hồng tước, thanh tước, tước nâu, tước xám, tiếng ngỗng trời, chim hạc, âm thanh điền dã, bản giao hưởng bốn mùa, bản hòa âm, dàn đồng ca, dàn thiên nhạc khổng lồ, khuông nhạc thế gian, các tiểu thiên thần vừa bay vừa hát,  tiếng gió sột soạt lật những trang sách như có người lẻn vào đọc trộm trong đêm tối... Ngoài ra, không gian ấy còn ngập tràn âm thanh của nhiều loại nhạc cụ: tiếng kèn, sáo, tiêu, nhị cổ, chuông, âm thanh cây đàn một dây và hai mươi sáu dây, nhạc bát âm, nhạc Johann Sebastian Bach, tiếng tập đàn ngắt nhịp, tiếng vĩ cầm, dương cầm, đàn tranh, tỳ bà, đàn đá, đàn nguyệt, đàn tế, tiếng thụ cầm, thiên cầm, phong cầm, thủy cầm...
Trước đây, Hoàng Cầm nổi tiếng với sáng tạo “lá diêu bông”, Ngô Tự Lập cũng sáng tạo ra tên “hoa tầm sương”. Lá diêu bông và hoa tầm sương là loại lá hoa gì không ai biết nhưng người nghe vẫn cảm giác rằng trên thực tế có lá hoa này. Đến lượt DKM, các loại đàn: thiên cầm, thủy cầm..., được sinh ra do sáng tạo ngôn ngữ của ông, nhờ ông mà tồn tại, nó có giai điệu du dương mê đắm mơ hồ, thực hơn cả thực.
Ông nhạy cảm với mọi tần số âm thanh, từ những âm thanh tế vi nhất (như tiếng tách vỏ của chồi cây, tiếng búng nước, tiếng ngỗng trời ngăn ngắt âm thanh nhỏ xíu mất hút về hướng tây, tiếng vang nhẹ lắc thắc nhỏ giọt từ tán cây phượng vĩ thức cùng làn mưa bụi trong đêm...) đến những âm thanh hoành tráng nhất (tiếng sấm, tiếng dòng sông gầm gào trong đêm tối...).
Có thể thấy, âm nhạc trong thơ ông không phải là nhạc rock mà là thứ nhạc giao hưởng của đồng quê với cung la thứ chủ âm. (Trong âm nhạc cung la thứ cùng với đô thứ diễn tả nỗi buồn có hiệu quả hơn bất cứ cung thứ nào), ông đã từng viết:
Bản giao hưởng loang ra như nước khởi đầu từ cung La thứ ràn rạt men theo vách thẳm (tr. 325).
Những thanh âm luôn có mặt trong thơ ông như ám ảnh của vô thức, lúc rõ ràng, lúc văng vẳng từ cõi lòng. Đặc biệt, âm thanh trong thơ DKM cũng có màu sắc, hình khối... Ông thường dùng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác để diễn tả thanh âm, ông không chỉ nghe bằng thính giác mà còn “nghe” bằng những giác quan khác. Sự “tương ứng các giác quan” (Baudelaire) luôn đồng hiện:
- ... làn âm thanh trong và êm dịu lướt nhẹ qua rặng trúc (tr. 471).
- Dòng sông chảy xiết âm thanh chói gắt (tr. 358).
- Âm nhạc tỏa xuống tầng không trung từng chùm âm thanh ngân dài (tr. 536).
 
III. Nghệ thuật miêu tả thời gian và không gian nghệ thuật
1. Nghệ thuật sử dụng các lớp từ ngữ
Khi tạo ra thế giới hình tượng trong thơ mình, DKM đặc biệt chú ý đến việc sử dụng từ láy, dạng láy - một tài sản quý báu của ngôn ngữ dân tộc. Nó là phương tiện đắc dụng nhất để tạo hình tượng, tạo tính nhạc và tính họa trong thơ, bởi trong bất cứ một trường hợp nào mà các từ láy, dạng láy được sử dụng để miêu tả thì chúng đều có giá trị tạo hình nhất định. (Nguyễn Duy - một thi sĩ có nhiều thành công trong việc sử dụng đắc địa từ láy và trong Tuyển tập thơ của ông in năm 2010 cũng đã dùng 728 từ láy với tần số xuất hiện là 1247 lần). Theo thống kê tỉ mỉ của chúng tôi, DKM đã sử dụng tất cả 807 từ láy và dạng láy khác nhau, tần số xuất hiện chúng trong Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh2.022 lần. Có thể nói đây là con số đáng kinh ngạc.
Không phải ngẫu nhiên mà những từ láy miêu tả các chiều kích của không gian rộng lớn, không gian vô tận xuất hiện dày đặc nhiều lần trong vô thức nhà thơ như:  thăm thẳm (18 lần), xa xa, xa xăm (40 lần) và thênh thang, mênh mang và mênh mông (54 lần)...
Khá nhiều bài thơ hay của DKM thường dày đặc các từ láy, dạng láy. Chẳng hạn bài: Niềm nhớ, Thôn quê, Gửi Đôn-ki-hô-tê, Mùa thu đến tự bao giờ, Vô thanh, Hồi vọng, Gửi sông Nhuệ, Trở về từ ảo giác, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (riêng bài này có 84 từ láy), v.v...
Đặc biệt DKM hay dùng liền một chùm từ láy đôi để miêu tả, khiến các hình ảnh cứ chồng lên nhau, cùng đồng hiện theo mạch liên tưởng.
Do đặc điểm cấu tạo ngữ âm, từ láy và dạng láy không những là điểm nhấn tạo hình tượng mà còn là điểm nhấn để tạo nhịp điệu. Những câu thơ văn xuôi dài chứa nhiều từ láy, dạng láy của ông thường được ngắt thành nhiều nhịp linh họat đã làm mất đi cảm giác lê thê, dài dòng.
Nếu những từ láy cùng trường nghĩa đã nhiều mà tần số từ láy lặp lại cũng  nhiều thì rất dễ gây ra sự nhàm mòn, hình ảnh bị trùng lặp. Cũng may là DKM đã biết kết hợp nó với những từ ngữ khác nhau, trong những tâm trạng khác nhau để tạo ra hình tượng và xúc cảm khác nhau. Ông cũng đã thành công khi tạo ra một số dạng láy của riêng mình, chẳng hạn:
- Và mưa từng ngón ngón gầy/ len len rây rẩy bàn tay gượng gàng (tr. 37).
- Xa lắm lắm ngày xuân xa lắm lắm (tr. 70).
- Phồn thịnh mưng mưng đường viền xứ xở (tr. 93).
- Mẹ hiện hoài phơ phơ tóc bạc/ chị kia kia đen đủi sạm già (tr. 207).
- Đây, mùa xuân gấp gấp, con cuốn theo tiếng gọi mơ hồ (tr. 458), v.v...
Nếu như Nguyễn Duy thích dùng từ láy khẩu ngữ và những chùm láy ba, láy tư kềnh càng, gợi ra những tiết tấu mang chất nhạc hiện đại mà Vương Trí Nhàn chỉ ra là “những trái khóay ngang phè, những nghịch lí tương phản” để tạo ra một giọng điệu thơ ở giai đoạn sau của Nguyễn Duy, đó là giọng điệu thủng thẳng, hài hước bỡn cợt thì Dương Kiều Minh ít dùng từ láy khẩu ngữ, mà chủ yếu là từ láy đôi tính từ “lành hiền, nghiêm túc” bên cạnh lớp từ Hán Việt và thán từ tạo nên một tinh thần nhạc cổ điển góp phần tạo giọng điệu trữ tình, sâu lắng, trầm buồn.
Thơ DKM có số lượng lớn các từ ngữ Hán - Việt: thôn nữ, thanh nữ, cố nhân, mộng điệp, cổ phong, thiên thu, lữ thứ, viên mãn, thư quán, song thụ, đại cảnh viên... và các từ mang màu sắc Phật giáo như nghiệp lực, thế tục, luân hồi, oan hoan, thiên khí, linh khí, thụy miên, mặc khải, phổ độ, mê lộ, uyên nguyên...Thậm chí có một số bài thơ nếu chỉ đọc tiêu đề như Ngâu hoa đề, Phượng hoa đề, Xuân mãn, Xuân khởi... thì có lẽ người đọc tưởng đấy là thơ Đường hoặc thơ Thiền.
 Từ Hán Việt có nhược điểm là thường trừu tượng, khái quát nên không gợi những sắc thái sinh động cụ thể, không thể hài hước, thường gợi sự tĩnh tại và không hiện đại... nhưng bù lại, nó có sắc thái cổ điển trang trọng, tao nhã, phù hợp với việc diễn tả hình ảnh của thế giới ý niệm, im lìm, tịch mịch.
Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả của ông thiên về cực âm: nhiều mưa - ít nắng; nhiều đêm - ít ngày; nhiều lạnh lẽo - ít ấm áp; nhiều khói - ít lửa; nhiều khốn khó - ít sung sướng; nhiều màu lạnh - ít màu nóng; nhiều hoa đồng nội - ít hoa sang quý; nhiều tính từ - ít động từ; nhiều thiền - ít tục; nhiều giấc mơ, ảo giác, tiếng vọng, nhiều quá khứ và hoài niệm... Vì thế có thể nhận định rằng, thơ DKM là của nỗi niềm sâu kín, một thứ thơ thiền hiện đại mang âm hưởng buồn... Tuy vậy, thơ ông lại có mấy từ ngữ cực dương hay được sử dụng như vút lên, dâng cao, vươn (dậy), đỉnh, trong suốt, ánh sáng, lấp lánh... nên thơ ông buồn nhưng không u ám mà sang trọng và thanh cao.
Muốn tạo phong cách thì phải có giọng điệu riêng, DKM thực sự là một người có giọng không lẫn với ai.
Dương Kiều Minh ít làm thơ “cách luật” mà thường làm thơ tự do và sau này thiên về thơ văn xuôi. Thể loại thơ văn xuôi có khả năng nới rộng hơn hiện thực cuộc sống được miêu tả, đồng thời giúp ông dễ bề thể hiện một cách thoải mái hơn “dòng ý thức” của mình, khai phá những bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.
2. Nghệ thuật kết hợp thực - hư, siêu thực, huyền ảo tâm linh
DKM đã từng bộc bạch rằng ông rất yêu mến tác phẩm Hồng lâu mộng - cuốn tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Trung Hoa. Vì thế quan điểm “dĩ hư hàm thực, dĩ nhân đối chân” luôn được ông áp dụng triệt để. Đó là những yếu tố hư ảo, những giấc mơ tâm linh, những không gian cổ tích, không gian mờ tỏ ẩn hiện... Không phải ngẫu nhiên mà những từ láy như: quanh quất, bồng bềnh, chập chờn, hiển hiện, lạnh lẽo, lờ mờ... có tần số xuất hiện cao. Tính chất thực hư kết hợp này đã làm cho hình tượng thơ DKM vừa chính xác, vừa mơ hồ, vừa hiện thực khách quan, vừa lung linh huyền ảo để tạo ra sự quyến rũ, khơi gợi cảm xúc đối với người đọc, bởi “những hình tượng thực hư này lại có khả năng thể hiện rõ nét hơn, sâu sắc hơn hình ảnh thật” (Trần Đình Sử). Cái luồng sáng của ảo giác trong thơ ông đã bộc lộ rõ nhất phần khao khát vô thức bản năng của ông về một thế giới khác bí ẩn và trong trẻo.
Nhiều bài thơ của ông phảng phất chất liêu trai:
- Tiếng gió sột soạt lật những trang sách như có người lẻn vào đọc trộm trong đêm tối (tr. 477).
Cái tiếng gió này, cái từ lẻn này có gì giống với Lý Bạch  khi “thi tiên” cũng miêu tả ngọn gió xuân lẻn vào bức màn cô chiếc để gọi mời, lay mở những thúc nén trong lòng người chinh phụ: “Đông phong bất tương thức/ Hà sự nhập la vi”?
Câu chuyện Trang Chu hóa bướm vẫn luôn ám ảnh khi Dương Kiều Minh suy ngẫm về chuyện tồn sinh của kiếp người: “Ôi, giấc mộng Trang Chu mãi mãi là giấc mộng - một cánh bướm mỏng manh thách thức cả kiếp người” (tr. 388).
Đã hơn một lần ông viết về cánh bướm này:
- Kết cục rồi cũng nhắm mắt buông xuôi, hóa cánh bướm chập chờn trở lại ngôi nhà hồi bé” (tr. 246).
3. Nghệ thuật sử dụng phép đối
Bên cạnh thủ pháp trùng điệp, thơ Dương Kiều Minh thường sử dụng phép đối. Những cặp phạm trù đối lập xuất hiện khá nhiều: tối - sáng, cao - thấp, thăng - giáng, sang - hèn, thực - ảo, đứt - nối, ẩn - hiện, mất - còn, lên -  xuống, đi - đến, ấm - lạnh, ngày - đêm, gần gần - xa xa, tan ra - kết lại, mau - chậm, v.v..
Những cặp đối lập này xuất hiện có thể trong một câu thơ, trong một bài thơ hoặc trong cả tập thơ:
- Gần gần lời cha/ xa xa tiếng mẹ (tr. 191).
- Theo mạch đất đứt - nốiẩn - hiện (tr. 413).
- Bằng bẵng núi đồi chồm lên tụt xuống (tr. 166).
- Xuất hiện những cánh diều số phận thăng lên rồi giáng xuống (tr. 243).
- Làn nước khi mau khi chậm, khi trong khi đục (tr. 252).
- Chốc người sang, chốc kẻ hèn (tr. 317).
Ông luôn có sự mâu thuẫn trong bản thể, vừa nghi ngờ là không thể có một thế giới khác hạnh phúc và trong trẻo [Tôi cho rằng chân hạnh phúc, chắc gì vị hòa thượng đã từng thực thấy (254)] lại vừa tin tưởng và hy vọng [Vẫn tin dù lòng tin phải trả giá/ Nâng niu cất giữ chiếc hộp đựng hạt mầm hy vọng (502)], v.v...
Việc sử dụng những cặp đối lập này đã cho thấy ông luôn ý thức được rằng đó chính là những cặp phạm trù triết học, là quy luật biện chứng của thiên nhiên vũ trụ và tạo hóa. Vì thế, mượn lời Giêsu Krixtơ, Dương Kiều Minh đã phát biểu: “Biểu tượng thế gian ư?/ ta nghiền ngẫm/ có gì tiếc nuối/ tan rãsinh thành/ trường tồnphát triển.” (tr. 154). Thiên nhiên bốn mùa trong thơ ông cũng chuyển động theo quy luật đó. Đời người cũng thế, có tử có sinh...
 
Kết luận
Ta là ai? Ta đến từ đâu? Ta làm gì? Ta đi về đâu? luôn là những ám ảnh suốt lộ trình thơ Dương Kiều Minh. Nó làm nên cốt cách, phong vận và những độc đáo của thơ ông. Trên nền tảng cổ điển thấm đẫm văn hóa phương Đông, Dương Kiều Minh là nhà thơ cách tân, hiện đại trong diễn đạt từ ngữ, liên tưởng cùng với nghệ thuật kết hợp yếu tố thực - hư đã mang đến cho người đọc nhiều xúc cảm mới mẻ, tươi ròng. Một số sáng tạo ngôn ngữ đã trở thành bản quyền riêng của Dương Kiều Minh. Thơ ông không mạnh về tứ mà thường nghiêng về cảm xúc của tâm trạng. Cảm thức thời gian đêm mùa xuân, thu luôn ám ảnh ông. Ông đã tạo cho mình một không gian nghệ thuật đa chiều kích với những biểu tượng (con đường, cánh đồng, người mẹ...) vừa giống lại vừa rất khác biệt với các nhà thơ khác. Trong thơ ông, thế giới màu sắc, mùi vị, âm thanh của thiên nhiên, vũ trụ và cuộc sống thanh bình luôn cùng hòa điệu. Ông đã tìm thấy vẻ đẹp huyền nhiệm nơi thiên nhiên bốn mùa. Ông không kiêng dè nói đến những nghi ngờ thời cuộc, ý nghĩa tồn sinh và nỗi khốn khó của kiếp người, những phần khuất khúc của bản thể con người... Và trên hết tất cả, ông là một thi nhân với trọn vẹn ý nghĩa thẩm mỹ và cao cả của tên gọi.
 
H.K.N
 
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh hoa, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992.
3. Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường, NXB Thuận Hóa, 2006.
4. Hoàng Ngọc Hiến, Baudelaire - Chủ nghĩa tượng trưng và thơ mới, trong sách Những ngả đường văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006.
5. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2000.
6. Dương Kiều Minh, Tuyển tập thơ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012.

 
 
 
 
 
 

Nguồn tin: TCNV 09-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn