Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Những sáng tạo đầu tiên của Nguyễn Quang Thiều là lối tạo hình ảnh và ý tưởng thơ từ những liên tưởng không tương đồng:
Sông Đáy chảy vào đời tôiNhư mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả(Sông Đáy)
Đặt ngang hàng ý niệm trừu tượng với một hình ảnh cụ thể, mà không cần phải có bất cứ sự tương đồng về màu sắc, hình khối, hương vị, âm thanh nào, ngoại trừ cảm giác về sự chuyển động, mà thực ra cũng cách xa nhau - từ trừu tượng cho tới cụ thể, Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra một cách liên tưởng lạ. Cảm giác trực tiếp về chuyển động là điều từ trước tới nay ít gặp trong thơ Việt.
…
Đùng đùng gió giục mây vần/ Một xe trong cõi hồng trần như bay… Đoạn trường thay lúc phân kỳ/ Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Những câu thơ mang tính tái hiện cao, cảm giác xóc nảy, nhưng vẫn chưa thoát khỏi lối miêu tả ước lệ. Hay:
Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang(Mùa xuân chín, Hàn Mặc Tử)
Cảm giác về chuyển động, mặc dầu có hướng rõ ràng, vẫn phải được tái hiện nhờ vào những cảm giác khác về ánh sáng, màu sắc, không gian…
Mượn cảm giác chuyển động cụ thể, từ bước chân kĩu kịt, hối hả, chuyển hướng, của người mẹ để làm hiện hình dòng chảy trừu tượng trong tâm tưởng của con sông, đây là trường hợp hiếm hoi.
Hiện thực hóa những cảm giác và ý tưởng trừu tượng bằng hình ảnh, cảm giác cụ thể, là thủ pháp quen thuộc kể từ thời kỳ thơ tiền chiến. Nhưng Nguyễn Quang Thiều đã đến với thủ pháp đó bằng một thứ giác quan lạ lùng hơn, mang tính thực thể và tinh vi hơn
[1].
Nhiều bài thơ khác của ông khai thác cảm giác thực thể chi tiết, sống động:
Cốc cà phê càng nguội/ Màu cà phê càng đen(Mười một khúc cảm)
Tôi khóc những mùa rau khúc, tôi đã thiếp đi trên miếng bánh của mình…Tôi khóc những bà già đang rửa chân trước ngôi nhà ẩm ướt ven đê…Tôi khóc những miếng bánh nóng như cái lưỡi rơi vào bếp tro bụi bặm…(Tôi khóc những cánh đồng rau khúc)
Nguyễn Quang Thiều còn đi xa hơn, khi dùng lối miêu tả tái hiện cụ thể đến từng chi tiết. Âm thanh, hình ảnh, màu sắc, đường nét… được phân tách và ghi chép tỉ mỉ tựa như trong sách phong tục. Chính sự tỉ mỉ và được phân tách này tạo ra một tâm thế khách quan, giãn cách so với quan niệm lấy cảm thức của nhà thơ làm trung tâm vũ trụ, của tư duy thơ trung đại và thậm chí, thơ hiện đại.
Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộNgười họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đenChỉ đôi tay, đôi chân và đôi mắt lộ raNhưng tất cả cùng một màu như thếNhững chiếc dậm trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lênNhững cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bướcBóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen Họ lặng lẽ đi như đội quân thất trậnCán dậm chúi xuống mặt đường - Những nòng súng hết đạnNhững tấm áo rách sặc mùi bùn phơi trong lòng dậm như cờ ngày việc làng rã đámVảy cá bám trên áo họ lấp lánh những tấm huân chươngHọ chẳng cần tung hô, cũng chẳng đợi đón chào Như mây trước cơn giông trôi nặng nề, oi bứcNhững người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộHọ đến từ đâu và sẽ đi đâuVới mùi tanh cua ốc tỏa quanh người(Trên đại lộ)
Những liên tưởng cố ý hướng về sự vật thực hữu, cảm giác thực thể, vật chất, nhưng không gây cảm nhận sơ giản hay đơn điệu. Trong những hình ảnh vật chất thông thường của Nguyễn Quang Thiều thường tiềm ẩn ý nghĩa hoặc trạng thái phi vật chất, ví dụ “bóng họ… thành những
vũng đen”, hay những so sánh lạ bởi ý nghĩa tương phản nhiều hơn là tương đồng: “cán dậm… – những nòng súng hết đạn”.
Những câu thơ được trích dẫn sau đây là sự hoán dụ tài tình giữa cái có thực với không thực, hiện hữu và không hiện hữu, không chỉ dựa trên tính chất, trạng thái tương ứng, mà chủ yếu nhờ vào năng lượng đồng hóa mãnh liệt của tâm thức.
Không bị ràng buộc vào vỏ bọc khái niệm, trao cho vật chất và thiên nhiên năng lực chủ thể và cảm nhận (chứ không đơn thuần là “nhân hóa”), hoán vị giữa con người và thế giới vật chất, co hẹp tối đa tính chủ động và tự tin vốn có của con người, cũng như để cho thế giới vật chất tự “dựng lên” năng lực làm chủ, tự kiến lập và bộc lộ, Nguyễn Quang Thiều làm đồng hiện những trạng thái thơ kỳ lạ, với nhiều dạng thức cảm nhận, trong một không gian lập thể, muốn bung vỡ ra theo những chiều mắt thường không thấy được:
Ngôn ngữ cấy trồng, gặt hái rụng xuống những chiếc lông xơ
Chiếc áo cần cù xé ra băng vết thương mùa màng hổ thẹn
Gió quẫy đuôi vật đẻ làm tan đám bèo mây ngơ ngác
Chùm trứng sao lững lờ trong đáy nước trời xaBóng tối rót qua những phễu rạ tươi
Lỏng lảnh chảy vào vết rạn của chiếc bình ánh sáng
Bầy nhái kéo những cỗ súng thần công ra khỏi thành đất
Bắn những viên đạn âm thanh ẩm ướt, mơ hồ
Cánh đồng bị thương kêu lên một tiếng cười ngái ngủ
Và lịm vào những thửa ruộng bùn nâuLúc đó phía làng, những ngôi nhà dựng lên bằng chứng của sự thất bại
Những đa bào đang bóc khoai và mơ lợn nái đẻ nhiều
Tất cả là sáo mòn, tất cả là vô sinh trừ ngọn lửa
Vừa thức dậy dịu dàng tắm rửa những ban mai(Hòa âm của những đa bào, 1994)
Sau
Sự mất ngủ của lửa, cho tới
Những người đàn bà gánh nước sông và
Nhịp điệu châu thổ mới, người đọc có thể nhận thấy dấu vết những nỗ lực diễn tả tính chủ động của thế giới vật chất, nỗ lực kiếm tìm một cách thức mới bộc lộ tâm thế của con người, qua những câu thơ còn dư thừa, chen chúc hình ảnh, chưa hiển lộ được cảm xúc và ý tưởng một cách nhuần nhị:
Con đường của cái chết đẹp không bao giờ đánh lừa hướng đi của bóng tối Nhịp chuyển động của cô đơn về ký ức hoang tàn Mọc lên cánh đồng xanh phía thì thào cháy họng Dào lên miền nhiệt đới ướt át, run rẩy đã từng khóc trộm Trong hạn hán, cộng đồng nấu cháo những cánh buồmHay:
Tiếng tù và trôi qua thế giới khói, biền biệt phía bên kia Mở con đường hay mê ngủ, nức nở và cầu nguyện Phía bên kia, những vầng mây không mang họ của nước Chở lịch sử của chúng trôi nham nhở dọc chân trời Và đã đến, bầy ngựa bạch âm thanh, mang theo di chúc Phía bên kia, những miền không phân biệt, dựng lá cờ xương thịt Dựng dưới chỏm tóc đen, dưới hàm răng sáng Dựng lên... một Cậu Bé, dựng lên nín thở Bản di chúc đã đến, phía bên kia, bầy ngựa bạch rũ bờm(Nhịp điệu châu thổ mới)
Cho đến
Bài ca những con chim đêm và sau này,
Cây ánh sáng, thơ Nguyễn Quang Thiều đã thực sự đạt tới tính trọn vẹn nhuần nhị trong cấu tứ nghệ thuật của hình ảnh cũng như ý tưởng.
Biến những quá trình chỉ có trong linh cảm, tưởng tượng, giấc mơ, sự nhớ lại, thành khả thể, cho nó một tồn tại vật chất, đồng thời biến thế giới vật chất thực hữu trở thành, hoặc phi thực, bị tước hết sức sống và ý nghĩa, hoặc mơ hồ hơn cả giấc mơ:
Trộn máu vào phù sa, trộn ban mai vào hòang hôn, tôi nặn chiếc bình gốmChiếc bình chảy máu, men hoàng hôn chảy, men ban mai chảy, chảy phù sa(Chiếc bình gốm)
Đổ xuống, tuyết, như một con mắt đang mởTo dần ra và nhìn thẳng vào ngôi nhàKhông có gì cưỡng lại được cái nhìn của tuyếtCả một chiếc giày trẻ sơ sinh lọt xuống gầm giườngĐổ xuống và những con cá vàng bất động trong bể nướcNhững cái hôn dài mãi và đèn bàn bỏ quên không bao giờ tắt Đổ xuống, mặt úp mãi vào gối, và cơn mơ vĩnh viễn lơ lửngĐổ xuống, những bức thư mãi mãi trong hòm thưNhững giọng nói mãi mãi trong dây cápĐổ xuống, và hiện lên những hàng rào gỗ ngốc ngếchNhững viên đạn nằm mãi trên đường bay(Và màu trắng)
Hay:
Những người chết đi lại lũ lượt ngó nhìn mọi nơiHọ ăn uống, tắm rửa, trò chuyện, cười khóc ...Họ tiếp tục sống một đời sống bị đột ngột cắt đứtHọ tiếp tục mơ những giấc mơ bị tan biến giữa chừngVà những bóng ma trà trộn trong họ gấp gáp thực hiệnNhững mưu mô của chúng, những tội lỗi của chúngBởi thế đời sống trong đêm của chúng vốn ngọt ngào và êm áiLại chứa đầy những tiếng thét, những chuyện đau buồn và bất trắcNhững người chết trở về mượn thân xác chúng ta, mượn giọng nói chúng taChợt ai đó trong chúng ta choàng tỉnh trong đêm và nức nở mãi không thôiNức nở và nói về tội lỗi khủng khiếp của mình không một ai biết đếnMột ai đó nguyên quần áo ngủ bỏ nhà đi ra hồ nướcTrong mắt người ấy chỉ có một con đường từ bờ chạy xuống đáy hồ(Đoản ca về buổi tối)
Từ bóng tối một ô cửa hiệuNhững ma nơ canh nhìn họ vô hồnVà một chiếc áo cướiKhông làm sao nhấc nổi ống tay(Những người lang thang)
… Tiếng chim đêm vọng về từ những đỉnh đồi bên kia Như lần đầu nghe thấy, như lần đầu sợ hãi Chợt nhận ra ngôi nhà của mình, nhận ra thơ ấu của mìnhNhận ra cơn mơ của mình đang đi trên con đường đơn độcNhận ra cuốn sách trên tay bị đánh tráo bằng cuốn sách khác … Đã lên đến đỉnh đầu, tiếng chim đêm, cùng phía ngôi saoVà bắt đầu đứng dậy, rừng cây ven hồ nướcĐứng dậy và mọc cao hơn, những hàng câyGắng thoát khỏi đày đọa của áo quần, giường chiếu… Mọc vút qua đầu người lái tàu lang thang như một mũi tênGiấc ngủ không thể nào mọc kịp những tán lá kiaTừ ô cửa sổ quên đóng chạy túa ra những cành láKhóc ròng bao năm trong ve vuốt cỗi giàMọc theo con đường gần nhất, xuyên thủng những trần nhàNhư chỉ còn đêm nay và những cái cây phải lựa chọn(Bài ca những con chim đêm)
Bị lấn át bởi giấc mơ hơn là cái “có thực”, (hiện thực cũng chỉ là hình ảnh khác của giấc mơ) bị xâm lấn, uy hiếp bởi hoạt động và trạng thái kỳ ảo man rợ, của đồ vật, cây cối, linh hồn… đẩy con người cùng những cảm xúc tính người vào vị trí thứ yếu, bị tranh đoạt, thế giới thơ Nguyễn Quang Thiều có thể được nhìn nhận giống như cuộc dấy loạn của những gì thuộc về tiềm thức, thuộc về thứ hiện thực xa xăm của đời sống, những mối đe dọa, nguy cơ tăm tối mà dường như lâu lắm con người sống trong tự tin vào bản thân không hề nhận ra. Những dạng thức vật chất “đen, tối”, liền kề bao phủ đời sống, đòi phải được thừa nhận, chống lại thứ lý trí đơn thuần.
Nguyễn Quang Thiều cũng là người tin tưởng rằng có nhiều trạng thái sống (living state) vượt ra ngoài khả năng nắm bắt và chứng nghiệm thông thường của tâm tưởng con người, nhưng lại là lãnh địa mà thơ ca, bằng bản chất phi thường của nó, dễ dàng chạm tới. Ông tin rằng điều không tưởng, cái không bao giờ có thể gọi tên bằng khái niệm, sợi ranh giới mỏng manh len vào giữa tồn tại và những điều không tồn tại, con người có thể chạm tới, trong khoảnh khắc mơ hồ.
Kẻ “tấn công” ở nơi này, trong một chiều không gian khác, là con mồi, của sự tấn công và tiêu diệt vô hình khác:
Bi thương và hèn yếu làm saoChúng ta rót rượu tràn chén mà không hề biếtVà chúng ta không hề biếtSự lừa dối rót đầy chúng ta. Và lúc đó có người đứng dậyĐi vào bóng tốiquay nhìn lạiThấy mình mẩy chúng ta cắm đầy giáoPhóng tới từ một đấu trường khác.Không chỉ là ám dụ được suy luận dựa trên các tình tiết nội dung bài thơ, hình ảnh (được nhấn mạnh trên) còn là khoảnh khắc đảo ngược phi thực vượt khỏi mọi suy đoán thông thường.
Trí tưởng tượng đẩy Nguyễn Quang Thiều đến với những hiện thực tồn tại bên ngoài mọi logic lý tính con người tạo lập nên:
…
Đêm đêm tầng trên ngôi nhà - một cái đầu mất ngủ - nhìn xuống chúng ta. Và trong giấc ngủ của mình, chúng ta nhìn thấy cái chết như một người bà con đang kê lại đồ đạc và kéo những chiếc rèm che cửa.Đêm nay tất cả vàng ở cửa hiệu tầng dưới đã được chuyển đi. Hai cánh cửa gỗ mở toang ngơ ngác. Có một vài kẻ lang thang trong mưa đi qua , dừng lại và nhìn mãi vào bên trong. Chỉ sớm mai tầng dưới ngôi nhà sẽ biến mất. Chỉ còn lại tầng trên lơ lửng giữa bầu trời thị xã, giống như một cái đầu đang nghĩ, và kéo dài cả thế kỷ sau. (Nhân chứng của một cái chết)
Không mùa đông nào làm tàn lụi được những quả đồiVĩ đại hơn những tư tưởng, lộng lẫy hơn những lâu đàiChúng ta, những đứa trẻ cô đơn và sợ hãi, đứng nhìn bất độngNhững cái cây cổ thụ im lặng trong gió thổiTrong mây bay, trong hoả hoạn phía thành phố.Trên đỉnh những quả đồi, những cái cây… (Những quả đồi ban mai)
Hay:
Những hiệp sỹ xứ Ai-len nằm xuống hoá thành những quả đồiVà ngủ mãi giấc ngàn năm chưa thức dậy bên bờ biểnNhững ngựa chiến ngủ bờm trải mênh mông những thảo nguyênGươm giáo chạy trốn gươm giáo vào sâu lòng đất... Vào lúc ban mai tiếng ngựa hí vang, cánh đồng dâng lên từng đợt sóng hoa vàngMột thiếu nữ Achill đi trên sườn đồi, nàng tạc bằng đá hoa cương trắngMắt nàng là hai viên ngọc xanh, tóc nàng như một đám rong biển dập dờn, tâm hồn nàng là sao mai… Lúc ấy tôi nghe trong gió xưa thổi về tiếng đàn tiếng sáo trong những lâu đài cổ đã quên lãng từ lâu đâu đó trên những ngọn đồiNhững hiệp sỹ vẫn ngủ và gươm giáo vĩnh viễn lạc sâu trong đấtChỉ có nữ hoàng xứ Ai-len thức dậy lúc ban mai đi ra khỏi lăng mộ của mình.(Bài ca bình minh trên những quả đồi Archill)
Gần gũi với tư duy huyền hoặc của cổ tích, thần thoại, nhưng không phải vậy.
Nếu loại trừ ý nghĩa xưng tụng vẻ đẹp như một quyền lực không thể so sánh, cách hiểu trong trường hợp này, có phần “sáo”, ngôn ngữ của
Bài ca bình minh trên những quả đồi Archill vẫn lung linh những ý nghĩa và sắc thái khác. Tương tự như hai ví dụ trên.
Nó là sự thách thức đối với cái thông thường. Chính xác hơn, thách thức lối cảm nhận thông thường về thế giới thực tại và sự vật. Dùng quyền lực bí ẩn của thơ ca để hiện hình cái không tồn tại, và bảo lưu cái tồn tại trong dạng thức của trạng thái sống màu nhiệm, phi luận lý.
Trong loạt bài thơ
Hai màu đen, Nguyễn Quang Thiều đã hoàn toàn loại bỏ “nhân vật trữ tình”, tức chủ thể và thế giới chủ quan được xác lập bằng tâm trạng, cảm xúc, để cho các hình ảnh tự do vận động theo sự hình dung phóng túng, “khách quan” nhất về nó.
***
Cảm hứng thơ Nguyễn Quang Thiều thường gắn liền với những thi liệu dị biệt, lánh xa cái đẹp mỹ miều về thị giác mà có khuynh hướng ưa chuộng tính khắc khổ, kỳ dị:
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen tõe ra như móng chân gà mái Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông (Những người đàn bà gánh nước sông)
Những phần bị thải loại nhưng lại khơi gợi sự ấm áp, yêu thương của cơ thể:
Nước mũi quệt vỏ gốc cây già, khô thành vệt sángGiấc ngủ sữa thấu lịm, giàn dụa hạt đất nâu
- Hãy về đi ! hãy bước vào ! hãy đừng khóc và đừng nhắm mắt !(Bài ca về khu vườn – Nhớ cháu Thành)
Hình ảnh thơ Nguyễn Quang Thiều có xu hướng đồng hóa giữa đặc điểm, phẩm chất, thậm chí bản chất con người với những loài vật gần gũi trong đời sống thôn quê Việt:
Tôi hát bài hát về cố hương tôiBằng khúc ruột tôi đã chôn ở đóNó không tiêu tanNó thành con giun đấtBò âm thầm dưới vại nước, bờ aoBò quằn quại qua khu mồ dòng họBò qua bãi tha ma người làng chết đóiĐất đùn lên máu chảy ròng ròng(Bản tuyên ngôn về làng Chùa)
Ông dễ dàng thừa nhận bản chất “luân hồi” giữa con người và tự nhiên, bao gồm cả những thân phận bạc bẽo hơn: “
Kiếp này tôi làm người/ kiếp sau phải làm vật/ kiếp sau tôi xin làm con chó nhỏ/ canh giữ nỗi buồn báu vật quê hương tôi”
Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Quang Thiều cảm thấy gần gũi với cái nhỏ bé, kỳ dị, và hẩm hiu. Cảm hứng thơ ông xuất phát từ nỗi đau buồn và đau thương, dù đã được gói ghém bằng tinh thần chấp nhận can đảm và cứng rắn, vẫn phát lộ trong bất kỳ bài thơ nào, tức thì, đột ngột như vết thương vừa cắt vào thân thể.
Hình ảnh máu, hay “bắt gặp trong không gian máu của mình”, vết thương, sự cắt rời các bộ phận cơ thể ( “cha bứt tóc cha làm dây”, “cha cắt phổi cha làm buồm”…), cơn ho, bệnh tật… xuất hiện khá phổ biến trong các bài thơ của Nguyễn Quang Thiều. Nó vừa bộc lộ nỗi đau đớn tột cùng vừa trở thành biểu tượng của tinh thần xả thân, chịu đựng và cao thượng.
Bao trùm cả cảm hứng đau thương và tinh thần chịu nạn, là cảm thức về cái khủng khiếp. Cảm giác khủng khiếp vừa là sự đe dọa đến từ môi trường bên ngoài, vừa là trạng thái nội tại thích nghi và đáp trả mối đe dọa đó, tất cả ở độ căng cực điểm. Cảm giác khủng khiếp là sự tích tụ, lớn lên và bùng nổ, có thể dẫn tới sự hủy hoại hay giải thoát, của nỗi đau khổ, trạng thái bị uy hiếp và tinh thần đương đầu.
Nỗi khủng khiếp khi hiển hiện của cái chết trở thành thân mật, gần gũi, thành niềm an ủi:
… Cỗ xe tang trôi mãi vào cơn mêNhững con rồng gỗ vảy vàng bay lên trong tiếng kèn, tiếng trống… Chiếc xe tang rực rỡ - cái đồ chơi của conCon đang mê mải chơi, mẹ có nghe thấy không, con đang cười khúc khích… Nỗi cô đơn và con là hai đứa trẻ chán mọi trò dụ dỗChúng con đuổi nhau dưới vòm cong của cỗ xe tangChúng con bay theo những lá cờ đuôi nheo và những lá phướnVề gò đất cuối làng ta trong tiếng hát cầu hồn(Âm nhạc)
Cảm giác thiết thân với cái chết là điều không bình thường, không dễ chia sẻ. Ngay cả trong những miêu tả trên đây của Nguyễn Quang Thiều, nó cũng được cảm nhận không phải theo cách tự nhiên, mà nhuốm vẻ chua xót, khủng khiếp. Nó là một thực tại bắt buộc. Được hình dung như sự sống chung với đau thương và hủy hoại.
Nỗi khủng khiếp của sự ngộ nhận, tự mất hết ý nghĩa và chống lại bản thân:
… Những vòm cây tự xé rách lưỡi mình
Trong cơn ngứa ăn nhầm ánh sáng
Những dòng sông tự cào tướp họng
Cơn buồn nôn những bến giả không thuyền
… Và những đền chùa gục ngã
Trước những pho kinh phản bội bồ đềMotiv tự tước mất ý nghĩa vốn có, tự chống lại bản thân còn lặp đi lặp lại trong nhiều ý thơ khác của Nguyễn Quang Thiều, như “những cuộc làm tình ban ngày của những kẻ thất nghiệp ngay trong văn phòng của họ” hay “Giọng nói các người vang lên quanh ta, mặt các ngươi lướt quanh ta/ Các ngươi đấy nhưng ta không thể nào nhận nổi/ Hơn cả trò chơi của quỉ, các ngươi không ẩn trong bóng tối/ Các ngươi giả trang bằng chính mặt mình
”.Sự bệch bạc dần của các khái niệm và giá trị, đối với Nguyễn Quang Thiều, giống như ngày tận thế, bởi vì nó nằm trong “bức tranh” toàn thể của cái khủng khiếp, vượt xa mọi suy đoán, tiên lượng.
Nó bao gồm cái chết án ngữ trong những biểu hiện sống:
… Nhận ra một lớp học thầy và trò từ lâu rồi đã chết Viên phấn kẹp giữa hai ngón tay thầy giáo già đã phủ đầy rêu(Bài ca những con chim đêm)
Là đời sống buộc phải hiện lên bằng trạng thái chết, vẫn mang toàn bộ nét nguy nga và đầy ắp của nó, nhưng là hình ảnh đảo ngược, và tất nhiên, khủng khiếp:
Ngước nhìn lên trong đêm mờ sao, và tôi nhận thấyLinh hồn của những người chết trên mảnh đất nàyBay lượn nặng nề cùng linh hồn những chiếc thuyền thúngVà linh hồn những con chó chạy ra mép nước sủa vang đón linh hồn những ông chủLinh hồn một bà già hấp hối đòi gặp linh hồn con cháuNgước nhìn lên và tôi thấy linh hồn ông nội tôiĐang dựng lại đình làng và linh hồn bà nộiĐang đội đất đắp đê dài đến tận chân trời(Bài ca những con chim đêm)
Sự chuyển tiếp, đan xen, xuyên thấm giữa sự sống và cái chết, có thể cũng mang một tinh thần lạc quan nào đó, nhưng vẫn bất thường, ma quái, mang cảm giác đọa đày vô minh:
Có bao căn phòng tắt đèn, đóng cửa và ai đó nằm xuống mãi mãi. Thế gian mỗi ngày một tối hơn. Chúng ta sống quờ quạng trong những tháng năm bóng tối nham nhở. Nhiều thành phố vùi sâu vào đất. Những thành phố ra đi vĩnh viễn và mang theo những cây đèn. Chúng ta bới đất và nâng những cây đèn, như nâng những thi thể ngừng thở đã lâu nhưng da thịt vẫn còn ấm nóng.(Nhân chứng của một cái chết)
Điều khủng khiếp khi bình thản đối diện với sự chết từng phần, chết tại nhiều tọa độ không gian và thời gian, của bản thân, trong tâm thức trừu tượng, vượt ra ngoài tồn tại:
Có những bình minh mưa tối tăm, những hoàng hôn nắng rực rỡ
Tôi đẩy chiếc xe một bánh chở sự thoi thóp trong sạch nhất của tôi
Đi qua những nơi tôi đã chết
Tôi thấy xác tôi như sương vương trên cỏ dại
Người cũng đi qua và người đứng lại
Không phải mặc niệm tôi, nhớ thương tôi mà người choáng váng
Trong ký ức nỗi buồn ngây ngất dâng lên (Với chiếc xe một bánh)
Có khi là niềm lạc quan mang tính phản biện, như một tuyên ngôn:
Chúng ta thường chăm sóc những ngôi mộbằng nỗi sợ hãi và tiếc thươngNhưng ít người chúng ta nhìn thấy cỗ xe tang lộng lẫyTrong tiếng trống tưng bừngLàm thần chết cũng hết phiền muộn… Họ đã nhìn thấy vẻ đẹp diệu kỳTrong những gì luôn đe dọa người khác(Thay lời nguyện cầu)Cái đẹp là những gì được hình thành dựa trên thế giới cảm xúc rộng lớn của con người. Quan niệm thẩm mỹ được gây dựng dựa trên những đường biên của sự cảm nhận cái khủng khiếp, một thế giới vượt ra ngoài năng lực giác quan và lý tính, với tất cả vẻ hoang đường ma quái cũng như kỳ diệu, là điều độc đáo duy nhất trong thế hệ nhà thơ như Nguyễn Quang Thiều, ở trong nước. Xuất phát và đắm mình trong quan niệm thẩm mỹ ấy, nhà thơ đã tạo lập một thế giới riêng biệt với vẻ kỳ lạ chấn động của sự nghịch đảo, của nỗi đau thương và can đảm chịu đựng, một thế giới vận động đi tới cái tốt đẹp và phồn thịnh thông qua sự hủy hoại, chết chóc, mà trong đó tình yêu bộc lộ bằng trạng thái phủ định không ngừng. Làm được như vậy, Nguyễn Quang Thiều bộc lộ một trí thông minh lạ thường cũng như năng lượng xúc cảm kinh ngạc. Tuy nhiên, cũng có khi người đọc nhận thấy thế giới thơ, thế giới thẩm mỹ của ông có những nét còn chưa thật sự hấp dẫn.
***
Thơ Nguyễn Quang Thiều hầu như mỗi bài đều bộc lộ một ý tưởng hoàn chỉnh, sáng rõ về mặt đạo đức hay suy tưởng, triết lý. Điều này tạo nên cảm giác vững chãi, sự đồng thuận về mặt “thông điệp”, nhưng cũng có phần làm giảm bớt sức lan tỏa của những trạng thái thơ huyền hoặc, lạ thường mà bằng những thi liệu riêng biệt, lối cấu tứ táo bạo, nhà thơ đã đưa ra.
Thơ viết riêng cho “nửa kia” của Nguyễn Quang Thiều cũng là mảng hấp dẫn với nhiều chuyển động thú vị, mà chúng tôi chưa có dịp đề cập một cách xác đáng trong bài viết nhỏ này. Dường như, đây là mảng bộc lộ tâm hồn nhà thơ một cách tự nhiên và sâu lắng hơn cả, không bị “can thiệp” bởi một kiểu trí tuệ hơi quá nhanh và sắc. Ông ít bận tâm tới bản thân mối tình, mà day dứt, ngẫm ngợi, tưởng nhớ, yêu thương nhiều hơn đến những gì mối tình ấy gây nên cho cuộc đời, nhân tính, vẻ đẹp… mà một con người có thể kiếm tìm cho riêng mình, như sự hướng tới điều gì trong lành nhất của đời sống:
… Tóc em còn nặng như xưa?Mắt em còn buồn như xưa?...… Sao ta không chạy nữa, sao ta dừng lại?
Sao ta không trườn xuống sông như đôi rùa mai nâu
Như đôi cá rô nhận ra sự đánh lừa của lạch nước nhỏ
Như hai chiếc hoa ngô ai ném xuống đáy chiều….…
Khánh Phương
[1] Các nhà thơ miền Nam trước 1975 như Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Hoàng Trúc Ly, Phạm Công Thiện… là những người tái hiện mạnh mẽ cảm giác thực thể để hiển lộ những ý tưởng trừu tượng, NV đã phân tích trong một số bài viết trước đây.