04:03 ICT Thứ sáu, 25/04/2014

Trang nhất » Tin Tức » Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình

Nghệ thuật chơi chữ qua các câu đối của người Việt

Thứ năm - 21/02/2013 13:53
Câu đối

Câu đối

TCNV Online- Ở các câu đối dùng Hán tự nghệ thuật chơi chữ đã thể hiện sự thâm thuý thì ở các câu đối chữ Nôm câu đối cũng được các tác giả vận dụng đa dạng cách thức chơi chữ đùa từ để tạo ra sự khéo léo đến bất ngờ về ngữ nghĩa.


















TRẦN THỊ THƯƠNG
 
 
Nghệ thuật chơi chữ
qua các câu đối của người Việt
 
 
 
1. Khái niệm về câu đối:
 Theo Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, “Câu đối là một thứ văn chương thù tạc hay dùng nhất trong xã hội nước ta”. Viện Sĩ Trần Ngọc Thêm thì cho rằng: Tiếng Việt rất phát triển hình thức câu đối là một loại sản phẩm văn chương đặc biệt, nó vừa công phu tỉ mỉ lại vừa cô đúc ngắn gọn (...) thể hiện đủ cả cái đẹp cân đối nhịp nhàng của hình thức và cái uyên thâm của chiều sâu triết lý phương Đông”, (Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, trang 288). Xét về mặt thể loại văn học, Tự điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Nguyễn Khắc Phi - Trần Đình Sử chủ biên) nêu định nghĩa câu đối như sau:
Câu đối (tiếng Hán là đối liên) là một thể văn đặc biệt có quy mô nhỏ, mỗi đơn vị tác phẩm (được gọi là câu) gồm hai vế (thực chất là hai câu) đối xứng nhau về từ loại, âm thanh và ý nghĩa, dùng để biểu lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ trước một sự việc hoặc một cảnh vật một đối tượng nào đó mà chủ thể (tác giả) quan tâm chú ý. Câu đối dùng để đọc hoặc dán, khắc (trang trí ở nơi trang trọng) để tỏ chí, đối đáp, chúc mừng, ghi công, viếng người chết hoặc đùa vui, chế nhạo,... Sức mạnh của câu đối là tính khái quát cao, súc tích.
Ví dụ một câu đối tương truyền của Nguyễn Khuyến như sau:
Mỹ nhân ngọc, hành vũ hành phong, anh linh mạc trắc;
美 人 玉  行 雨 行 風 英 令 莫 仄
Tế thế kỳ âm, hộ dân hộ quốc, vạn lại vô cùng.
济 世 其 陰 护 民 护 國 萬 吏 無 窮
Nghĩa của câu đối trên là: Người đẹp như ngọc, làm mưa làm gió, thiêng liêng không lường hết / Âm đức giúp đời, giúp dân giúp dân, ơn đội vô cùng. Đọc bình thường chúng ta dễ dàng nhận ra sự súc tích trang nghiêm như vậy. Song, nếu nhìn kỹ hơn sẽ thấy được cái độc đáo, nét tinh quái đùa từ, chơi chữ của bậc túc nho. Cũng chừng ấy từ, ngữ, nhưng nếu ngắt nhịp khác đi... mới thấy!
Như vậy, có thể nói, nét đặc sắc làm cho câu đối luôn mới và hấp dẫn chính là do sự đùa từ, chơi chữ mà ra. Xin khảo sát qua một vài hiện tượng như thế để cùng bạn độc xa gần nhàn lãm.
 
2. Chơi chữ trong câu đối chữ Hán
2.1. Chiết tự, dựa vào sự đồng dạng trong một số chữ Hán để tách ra hoặc ghép chữ lại
Bát đao phân mễ phấn 八 刀  分 米 粉
Thiên lý trọng kim chung 千 里 重 金 鍾
Chơi chữ ở đây là cách ghép ba chữ Hán nhỏ lại thành một chữ Hán lớn: chữ bát 八 ghép với chữ đao 刀 thành chữ phân 分 chữ phân 分 ghép với chữ mễ 米 thành chữ phấn 粉. Chữ thiên 千 ghép với chữ lý 里 thành chữ trọng 重, rồi chữ trọng 重 ghép với chữ kim 金 thành chữ chung 鍾
2.2. Lối đấu tự: là tìm những chữ có lối cấu trúc giống nhau để đối chiếu với nhau
Giai thoại ghi lại câu đối của Cao Bá Quát gửi bạn là Nguyễn Nhạ như sau:
Nhữ cấu vô nha hà tốc ngã 女 逅 無牙何 速 我
Ngô do hữu thiệt khởi thâu thuỳ 吾 犹 有 舌 起 輸 誰
Nghĩa là: Nếu anh không có nanh, chưa dễ hăm he được ta/ Ta còn cái lưỡi lẽ nào ta chịu thua anh? Nội dung chữ đấu trong câu này là: Trong chữ Nhạ 訝 ( Nguyễn Nhạ) có chữ nha 牙 (nanh); trong chữ Quát 鴰 (Cao Bá Quát) có chữ thiệt 舌 (lưỡi). Nanh tuy cứng hơn lưỡi nhưng lại mọc sau và rụng trước, còn lưỡi thì mềm nhưng lại có trước và chết sau.
2.3. Trích cú
Là lối chơi chữ mà các văn gia thi sĩ tìm trong các sách vở thánh hiền đem ra mà đối chọi nhau sao cho vế của mình không bị “lép vế” trước vế của đối phương
Kỷ dĩ mộc, bôi bất mộc, như hà dĩ kỷ vi bôi 几 以 木 杯 不 木 如 何 以 几 為 杯
Ghế là gỗ, chén chẳng là gỗ, sao nỡ lấy ghế làm chén
Tăng tằng nhân, Phật phất nhân, hà nãi dĩ tăng sư Phật? 僧 曾 人 佛 弗 人 何 乃 以 僧 師 佛
Sư là người, Phật chẳng là người, sao lại để cho sư thờ Phật?
Nội dung trích cú trong câu này như sau: Chữ kỷ (cái ghế gỗ) do chữ kỷ ghép với chữ mộc; chữ bôi (cái chén) do chữ mộc ghép với chữ bất: sao lại lấy gỗ làm chén? Chữ tăng (ông sư) do chữ nhân ghép với chữ tằng; chữ Phật (đức Phật) do chữ nhân ghép với chữ phất: Sao lại để cho sư thờ Phật?
2.4. Ngoài ba cách chơi chữ thường thấy trong câu đối chữ Hán vừa nêu, chúng ta còn thấy những dạng khác
2.4.1. Dùng một số tiếng trong câu có cùng âm mà khác thanh
Đường thượng tụng kinh sư sử sứ; 塘 上 誦 仱 師 使  使
Trên nhà, lúc tụng kinh ông sư sai sứ thần
Tiền đình tuý tửu phụ phù phu 前 庭 醉 酒 婦 扶  夫
Trước đình, khi say rượu, người vợ dìu chồng
2.4.2. Hoặc dùng hiện tượng đồng âm giữa tiếng Hán và tiếng Việt
Tứ thời bát tiết canh chung thuỷ 四 時 八 節 更 終 始
Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang 岸 了 堆 蒲 慾 点 装
Cái dí dỏm của câu đối này là ở chỗ: câu đối chữ Hán được nêu không ngắt câu sau từ “tiết” và từ “bồ” mà đọc liền ta sẽ thấy có “bát tiết canh” và “đôi bồ dục” là những món ăn thường thấy ở hàng thịt lợn, đây cũng chính là hai món mà ông hàng xóm đem đến biếu cụ Tam Nguyên, để rồi Nguyễn Khuyến cảm hứng cho câu đối nọ ra đời. Ở đây nghệ thuật chơi chữ tài tình ở chỗ dùng những từ ngữ đồng âm Hán Việt và thuần Việt.
2.4.3. Kết hợp linh hoạt tạo nên độ dài ngắn khác nhau đều có nghĩa cho những câu đối Hán tự vốn có sự ràng buộc ngặt nghèo về cấu trúc.
Chuyện kể rằng có một ông đồ sống thanh cao vui cùng sách vở, đối diện nhà ông là nhà của một trọc phú dinh cơ đồ sộ, kín cổng cao tường, trước cửa hắn lại có bụi tre cao như để khoe... mình là quân tử! Tết, ông đồ tức cảnh viết đôi câu đối:
Gia trung vạn quyển thư 家 中 萬 卷 書 (Trong nhà muôn cuốn sách)
Môn ngoại tam can trúc 門 外 三 竿 竹  (Ngoài cửa ba canh tre)
Có kẻ vào nhà tên trọc phú mách lẻo: Nó khinh ông ra mặt đấy, nhà nó thì chữ nghĩa, nhà ông chỉ có ba cành tre gộc. Tên trọc phú tức tối cho người chặt phăng bụi tre chỉ còn trơ gốc. Hôm sau, người ta thấy sau mỗi vế đối kia thêm vào một chữ
Gia trung vạn quyển thư trường 家 中 萬 卷 書 長
Môn ngoại tam can trúc đoản  門 外 三 竿 竹 短
Thế là, tên trọc phú lại nghe lời “thầy dùi”: Nhà nó thì muôn cuốn sách dồi dào, còn nhà ông chỉ trơ ba đoạn tre cụt ngủn. Không chịu được, tên trọc phú cho người đào phăng cả gốc tre đổ đi. Sáng hôm sau, lại câu đối cũ nhưng mỗi vế lại có thêm một chữ nữa:
Gia trung vạn quyển thư trường hữu  家 中 萬 卷 書 長 有
Môn ngoại tam can trúc đoản vô 門 外 三 竿 竹 短 無
Lão nghe lời dịch: Trong nhà muôn cuốn sách dài mãi/ Ngoài cửa ba cành tre ngắn không, tức giận vô cùng, không cũng đã hết phép.
Một chuyện khác, có một thầy đồ hài hước giữa đêm trừ tịch viết một câu đối xuân:
Phúc vô trùng chí 愊 無 重 至 (Phúc không đến hai lần)
Họa bất đơn thành 禍 不 單 成 (Họa không đi một mình)
Được hai vế đối này, thầy chừa một khoảng trống ai đọc cũng giật mình và cho là quái gở, còn cười thầm thầy đồ lắm chữ mà tự chuốc hoạ vào mình! Nhưng vừa sáng mồng một thầy khai bút viết thêm vào mỗi vế ba chữ nữa
Phúc vô trùng chí kim chiêu chí 愊 無 重 至 今 朝 至
(Phúc không đến hai lần mà sáng nay lại đến)
Hoạ bất đơn thành sa nhật hành 禍 不 單 成 沙 日 行
(Hoạ không đi một mình mà hôm qua đã qua rồi)
Thế là chỉ trong một đêm giao thừa, dưới ngọn bút hoạt kê tài tình và nghệ thuật chơi chữ đặc sắc thầy đồ Nho đã khiến hung hoá cát, đem dữ đổi lành ngay trong đầu năm mới thì còn gì may mắn.
Như vậy: Với nghệ thuật chơi chữ tài tình các “ông đồ xưa” đã luôn luôn tạo ra những câu đối mới mẻ, hấp dẫn độc đáo ngay trong một thể loại cần sự đối xứng và sự kết hợp chặt chẽ giữa các từ ngữ hơn bao giờ hết. Thế mới biết cái tài hoa, sự sáng tạo không ngừng trong tâm hồn người Việt.
 
3. Nghệ thuật chơi chữ trong câu đối thuần Việt
Ở các câu đối dùng Hán tự nghệ thuật chơi chữ đã thể hiện sự thâm thuý thì ở các câu đối chữ Nôm câu đối cũng được các tác giả vận dụng đa dạng cách thức chơi chữ đùa từ để tạo ra sự khéo léo đến bất ngờ về ngữ nghĩa.
3.1. Chơi chữ cùng phụ âm đầu
Thật thà thẳng thắn thì thua thiệt
Lươn lẹo lọc lừa lại lên lương
Câu đối dùng hàng loạt các từ có cùng phụ âm đầu sắp xếp với nhau để tạo nên một hiện tượng có thật trong xã hội! Quả là một sự phê phán, một lời cảnh tỉnh không kém phần ý vị.
Giai thoại về hai nhân vật Lý Toét và Xã Xệ xuất hiện trên báo chí những năm đầu của thế kỷ XX cũng kịp để lại một câu đối dạng ấy:
Đã đánh đập đồng đội đau đớn, đệ đơn đến đây, đền đi, điều đình đâu được.
Xẩy xô xát, Xã Xệ xuềnh xoàng, xin xếp xuống xem xét xử, xí xóa xong xuôi.
Hay như:
Tết túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế;
Xuân xong xoá sổ, say sưa sắm sửa sẵn xu xài.
3.2. Chơi chữ dựa trên sự đồng nghĩa của từ Hán Việt và từ thuần Việt
Trong tiếng Việt rất nhiều trường hợp từ thuần Việt và từ Hán Việt cùng song nhau trên cùng một văn bản, tuy nó khác về sắc thái biểu cảm, thậm chí nó khác nhau về một nét nghĩa khu biệt nào đó. Vận dụng điều này, câu đối cũng sử dụng cách chơi chữ rất thành công:
Phụ là cha, tử là con, công cha con không dám phụ
Mẫu là mẹ tử là con, biết mẹ con còn nói mẫu (theo phương ngữ, từ mẫu ở cuối vế này còn có nghĩa: nói bông lơn, mỉa mai)
Hoặc ở một câu khác:
Ngô là ta, ta ăn bắp ngô với trẻ;
Phụ là bố, bố nhường đậu phụ cho con.
3.3. Chơi chữ đồng âm
Giai thoại kể rằng ngày ấy, có một chàng trai làng Trung Ái cưới một cô vợ người làng Phan Long. Phan Long là phố huyện cũng lắm bậc hay chữ kỳ tài. Người Phan Long biết hôm ấy trong đám đón dâu của làng Trung Ái có Nguyễn Hàm Ninh (1808-1867, tiến sĩ Nguyễn triều), nên họ tổ chức bày một hương án chặn ngang đường vào làng, đoạn đầu cầu Kênh Kịa. Trên hương án họ đặt một vế đối kèm theo điều kiện nếu họ nhà trai đối được thì sẽ cho qua, bằng không thì... quay về.
Vế đối ra là: “Chân giậm tay mò bơn hói Kịa”. Bơn là loại cá thờn bơn mình dẹp, dẹt hình như cái lá đa, có nhiều ở con ngòi nước mặn chảy dưới cầu Kênh Kịa. Từ cái ý thực ấy, vế đối muốn ám chỉ việc người con trai về đất này tìm vợ. Đoàn người đi đón dâu còn ngơ ngác, lúng túng chưa biết xử trí thế nào thì Nguyễn Hàm Ninh đã vượt lên ứng khẩu: “Má kế miệng ngậm bống Khe Giang”
Vế đối thực hợp cả ý thực lẫn ý lỡm. Khe Giang là con suối lớn chảy ngang cuối làng Trung Ái, nơi có nhiều cá bống nước ngọt. Còn ý lỡm đối lại cũng rất đạt, nói bóng nói gió việc người con gái về lấy chồng ở đất Khe Giang...!
Đi sâu hơn các cách chơi chữ bằng cách vận dụng các từ đồng âm, chúng tôi tạm phân thành mấy ý nhỏ nữa như sau:
3.3.1. Tạo ra chuỗi đồng âm nhưng khác nghĩa
Vũ cậy mạnh vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa vũ ướt cả lông
Thị phải chầu thị đứng thị xem thị cũng thèm thị không có ấy
Vế trên có năm từ “vũ” thì cũng có từng ấy nghĩa khác nhau: vũ = mạnh; vũ = múa; vũ = mưa; vũ = lông, chỉ có từ “vũ” thứ hai mang chức năng của một đại từ mà thôi!
Tương tự như vậy, năm từ “thị” ở vế hai có năm nét nghĩa, mà mỗi nét đã gắn liền ngay sau mỗi từ nó đi kèm! [thị = chầu; thị = xem; thị = thèm; thị = ấy (nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam)]
Một trường hợp khác:
Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim, lòng đã trọng;
Trọng Thủy trông vào giếng, thoáng thấy nàng Mỵ, mắt rơi châu.
Từ “trọng” cuối vế trên và từ “châu” cuối vế dưới đều đa nghĩa.
3.3.2. Tạo ra trường từ vựng các từ chỉ nghề nghiệp
Đây là câu đối của cụ Tam Nguyên Yên Đổ làm giúp ông hàng gà, khóc vợ vừa qua đời:
Lồng tạo hóa úp rồi xao xác con tìm mẹ
Gánh giang san để lại, lục tục trống nuôi con
Các từ lồng, úp, gánh đã tạo nên trường nghĩa chỉ các vật dụng và hàng động của người làm nghề buôn gà. Hơn nữa cụm từ “lục tục con tìm mẹ” vừa chỉ cảnh con nhà hàng gà mất mẹ, vừa gợi tiếng kêu của bầy gà con lạc mẹ cù bất cù bơ,... “trống nuôi con” là cảnh cha nuôi con thay mẹ, lại gợi chuyện của... gà!
3.3.3. Tạo ra trường từ vựng các từ gần nghĩa
Bà Đồ Nứa đi võng tre, đến khóm trúc thở dài hi hóp
Trời mưa đất thịt trơn như mỡ, dò đến hàng nem chả muốn ăn
Các từ Nứa, tre, trúc, hóp (tiếng địa phương dùng để chỉ một loại cây cùng họ với tre trúc); thịt, mỡ, dò (tiếng địa phương chỉ cái chân), nem, chả,... đã tạo nên những trường nghĩa với mục đích chơi chữ rõ ràng của người tạo ra nó.
Hay như:
Kiến ở cành cam bò quấn quýt
Ngựa về làng Bưởi chạy lanh chanh
Cam, quýt, Bưởi cũng là những từ cùng trường nghĩa.
Cố ý tạo ra sự khó khăn cho người đọc bởi sự dích dắc của cách sắp xếp các tiếng cạnh nhau:
Con ngựa đá con ngựa đá con ngựa đá không đá con ngựa
Thằng mù nhìn thằng mù thằng mù nhìn không nhìn thằng mù.
3.4. Chơi chữ bằng cách nói lái
Gần đây trong giới văn nghệ còn truyền rằng có nhóm nhà văn Quân đội đi qua vùng đất Củ Chi có người đã xuất vế đối rất hiểm thế này: Gái Củ Chi chi cu hỏi củ chi. Nhiều người đã tìm cách đối lại, xin ghi ra đây một vế làm ví dụ: Trai Cù Mông còng mu đáp cù mông
Hoặc như một câu đối khác cũng hết sức đắc địa:
Trai Hóc Môn vừa hôn còn móc,
Gái Gò Công đã gồng lại co.
Xem ra nó đối cũng rất chỉnh, song nghĩa hàm ý thì... người viết không dám bình luận gì thêm! Chỉ dám nhắc lại một câu đối Nôm ở dạng chơi chữ nói lái này của Chiêu Hổ và nữ sĩ Xuân Hương ngày trước. Giai thoại kể rằng khi Chiêu Hổ đến nhà nữ sĩ họ Hồ, khi qua sân vô ý để đầu đụng vào cái váy phơi ở đấy. Nữ sĩ tức cảnh nêu vế đối trêu ông Nghè. Nho sĩ họ Phạm đối lại tạo thành một cặp như sau: 
Tán vàng, tán tía che đầu ai đỡ khi nắng cực
Thuyền vẽ thuyền rồng vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo.
 
4. Kết luận
Tóm lại, chơi chữ là một biện pháp sử dụng ngôn ngữ phổ biến mà độc đáo của người Việt, ở cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, phổ biến ở thơ Đường, thơ lục bát,... không những thế nó có mặt và “thả sức tung hoành” ngay trong những thể loại được coi là niêm luật được quy định chặt chẽ nhất: câu đối!
Người Việt đã nắm vững và tận dụng triệt để các điều kiện âm thanh, chữ viết các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa cộng với sự vận dụng linh hoạt trật tự các âm, trật tự từ ngữ, v.v... để chơi chữ theo nhiều cách khác nhau.
Chơi chữ nói chung và chơi chữ trong câu đối nói riêng là một truyền thống ngữ văn cần khảo sát, phổ biến và lưu giữ. Truyền thống này một mặt biểu hiện tính thông minh sáng tạo của người Việt (biết khai thác tối đa tiềm năng về chất liệu ngôn ngữ để tạo ra sự phong phú trong nội dung ngữ nghĩa của văn bản), mặt khác cho thấy sự độc đáo của tiếng Việt trong hoạt động hành chức, đa dạng của mình.    
 
T.T.T


 

Nguồn tin: TCNV 02-2013

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn