Những trang đời đa cảm
Thứ sáu - 04/11/2011 14:56
Nguyễn Hồng Giang
(Đọc tác phẩm Tiếng Đêm của Chu Thị Thơm - NXB Quân Đội - 2010)
Khi cầm tập tản văn Tiếng Đêm của nhà thơ Chu Thị Thơm, tôi những tưởng: "Sẽ nhận được ở đây một đôi điều trăn trở, một chút buồn buồn, một khoảng lặng bình yên hoặc đôi lời gửi gắm khẽ khàng, dè dặt... khá quen thuộc như đã từng nhận được từ những tập tản văn. Tôi đã nhầm! Cái tâm thế bình thản cùng những phỏng đoán chủ quan của tôi đã tan biến dần rồi mất hẳn sau khi tôi đắm đuối đọc từng bài, từng bài cho đến trang cuối. Bất ngờ nối tiếp bất ngờ! Không thể dùng những từ "đôi điều", "một chút", "bình yên", "dè dặt"... đối với tập tản văn này. Cả 29 bài viết đều ngập tràn cảm xúc, thẳm sâu, dữ dội, nén dồn... Đã yêu là yêu hết mực, đã khát khao là khát khao cháy bỏng, đã trăn trở là trăn trở vật vã khôn nguôi, đã buồn là buồn sâu buồn xót, đã thương nhớ là thương nhớ đến tận cùng... Đọc Tiếng Đêm, tôi cứ chìm vào từng trang viết,để rồi được tiếp thêm cảm xúc về thiên nhiên, con người, về những điều gần gũi, thường nhật mà có lúc tôi đã lỡ vô tâm, vô tình lãng quên hoặc cảm nhận hời hợt khi đối diện.
Trước tiên, xin được nói về núi rừng - núi rừng xanh ngắt, trầm mặc, đáng yêu rợp mát cả Tiếng Đêm. Ước gì cuộc sống thực, mật độ núi rừng cũng miên man, ngút ngàn, thăm thẳm như "mật độ" núi rừng xanh ngắt của Tiếng Đêm! Tôi sinh ra, lớn lên từ núi rừng; hành quân đi đánh Mỹ lại được sống giữa núi rừng Trường Sơn hùng vĩ. Núi rừng lặng thầm hy sinh để chở che, nuôi nấng tôi cùng đồng đội. Núi rừng là một cõi thiêng, tôi yêu núi rừng quá thể! Tôi chẳng ngờ khi đọc Tiếng Đêm lại được thỏa thuê vùng vẫy trong sự bao dung và thao thiết sẻ chia nỗi buồn vui muôn thuở của núi rừng. "Rừng, đó là sự trong suốt, mộng mơ và lãng mạn, đó là ngôn ngữ của tình yêu, nỗi nhớ và sự vĩnh hằng...", "Rừng, nơi ẩn những giấc mơ bền vững của con người. Nơi mà mưa nắng đi qua, niềm vui hạnh phúc về sự hoàn nguyên cùng tình yêu ở lại..." (Tiếng rừng). Khởi đầu Tiếng Đêm, nhà thơ Chu Thị Thơm đã khắc họa "chân dung" của rừng như thế, đẹp đẽ và sinh động nhờ tình yêu nặng sâu cùng những nỗi niềm... Sau chân dung khái quát, chân dung cụ thể của từng cánh rừng hiện lên sắc nét, ám ảnh bởi sự lãng mạn và nỗi khắc khoải của nhà thơ. Trên đỉnh Ba Vì sương giăng lúc hoàng hôn, nhà thơ bày tỏ tâm trạng vừa bồng bềnh vừa sâu lắng của mình: "... Tôi giật mình, nhận ra một tứ thơ rơi bất chợt đâu đây. Có lẽ ai đó lên đây, mang theo tâm sự của đại ngàn, rồi lặng lẽ bỏ quên những tứ thơ chăng, để bây giờ tôi nhặt được. Những vần thơ sấp ngửa, mênh mang và xa vắng vắt giữa làn sương bồng bềnh trong cổ tích...” (Hoài niệm). Chẳng có ai để rơi tứ thơ đâu. Có chăng, cảnh hùng vĩ, nguyên sơ của non cao là chất men say đợi sẵn, nhà thơ phải say thì tứ thơ bất chợt mới nẩy ra. Quên cả mình, dồn tất cả cho rừng cũng là một cách yêu rừng, tả rừng độc đáo của nhà thơ. Tạm biệt Ba Vì sương giăng, giữa thời khắc giao mùa, nữ sĩ ngược lên Tam Đảo. "... Tam Đảo ngơ ngác, rưng rưng mỗi độ giao mùa. Khói sương u uất, loanh quanh bên những vòm cây. Sương sà vào từng căn phòng, rồi rùng rùng chạy qua ô cửa, sau phút lưỡng lự, lòng vòng ra phía ban công và hối hả lên núi. Nó lên đấy để đợi một ngày hóa thân thành những giọt mưa, tri ân trả con người sự mát mẻ và thanh âm của núi rừng...” (Tam Đảo mờ sương). Đọc những dòng này, tôi muốn chen thêm sáu từ nữa sau hai từ khái quát con người: "trả cho nữ sĩ đa cảm". Vì sao ư? Vì nhờ nữ sĩ đa cảm mà khói sương Tam Đảo đâu chỉ có lên núi đợi, nó đã bay đi muôn phương qua những câu văn hút hồn, gieo bao nỗi bâng khuâng vào lòng người đọc. Cũng là rừng nhưng rừng trong "Phác thảo cánh rừng" không hiện lên trực tiếp mà hiện lên qua bức thư bạn gái và nỗi nhớ rừng đau đáu của nhà thơ. Nói chính xác hơn, bức thư bạn gái chỉ là lời đánh thức nỗi nhớ đau đáu ấy. Ấn tượng nhất trong "Phác thảo cánh rừng" không phải là cây lá, mây vờn, sương giăng, suối chảy... mà là những viên sỏi ẩn mình trắng muốt, là đá núi ngửa mặt lên trời, gồ ghề và kiêu hãnh. Đã từng đọc nhiều trang văn viết về đá núi, nhưng chưa trang văn nào đá núi lại làm tôi cảm thấy nao lòng như đá núi ở đây. "... Rồi đá khóc. Vết sẹo đá núi loang lổ, phô những mảng nâu trắng đan chen, chúng xô dịch để cho những nhánh thân lan len qua, sống nhờ và phô sắc rực rỡ. Đá kể về cõi hoang vu và sự cô đơn đến tột cùng...". Hẳn rằng, khi cầm bút viết văn ai cũng phải hóa thân, nhưng sự hóa thân vào núi rừng kiệt cùng, tự nhiên như nhà thơ Chu Thị Thơm thì thật đáng trân trọng và vẫn là cái đích phía trước của nhiều cây bút.
Say nhưng chẳng mê.Đan xen với những trang văn về sự kỳ diệu,lãng mạn của núi rừng, nhà thơ Chu Thị Thơm vẫn canh cánh về những số phận con người thủy chung, gắn bó với núi rừng trong sự hy sinh thầm lặng, mà sự hy sinh lớn nhất là nỗi khát khao triền miên chẳng được đắp bù. Nhờ họ, núi rừng luôn nồng ấm, biết nhận ra và biết khoe vẻ đẹp lung linh muôn thuở, nhưng chính họ lại lạnh lẽo và bỏ quyên vẻ đẹp của mình. Nhà thơ Chu Thị Thơm luôn xót xa về nghịch lý ấy, và chị tự xoa dịu một phần qua những trang văn đầy nhân ái. Ở một cánh rừng Lào Cai "... Có một giáo viên nữ mải mê với việc gieo chữ vùng sâu... một lần, cô đi chợ phiên. Cô mua cho mình bộ gương lược và nhận ra trong gương là một phụ nữ xa lạ với nhiều nét muộn phiền. Nhưng trong ánh mắt kia, ngọn lửa khát khao về hạnh phúc vẫn rừng rực cháy...". Ở một cánh rừng Bắc Cạn "... Một chiếc giường cũ được ghép bằng mấy miếng phản với chiếc chiếu mốc hôi xì cuộn lên. Hôm ấy là ngày nghỉ, cô giáo xuống núi để thăm con. Cuối tuần lại leo lên đỉnh Tân Sơn, đưa cái chữ đến cho bản H’Mông...". Về với rừng Thái Nguyên vào một ngày mưa, nhà thơ viết "... đất trời như kéo xuống thấp hơn bởi sự âm u tối sầm của nó. Chiều, nhìn qua làn mưa tôi thấy rất nhiều bà mẹ ông bố lom khom cõng con đến lớp... Kết thúc buổi học, họ lại cõng con về trong mưa giá...".Đọc bài Tri ân, tôi như được theo nhà thơ đến tận những cánh rừng xót lòng ấy, để rồi thêm thấm phận cô đơn, cơ hàn của con người nơi rẻo cao đang hiện hữu... Tại núi rừng ư? Không! Ngàn lần không! Núi rừng là "... Nơi ẩn những giấc mơ bền vững của con người. Nơi mà mưa nắng đi qua, niềm vui hạnh phúc về sự hoàn nguyên cùng tình yêu ở lại" cơ mà.Vậy thì nghịch lý đó tồn tại vì ai? Tiếng Đêm không chỉ rõ, nhưng người đọc đều tìm ra câu trả lời thỏa đáng của riêng mình...
Tạm chia tay núi rừng ngút ngàn, tự xoa dịu lòng mình khi nghĩ về nghịch lý, ta theo nhà thơ trở về với thu, với mưa, với hoa sữa Hà Thành. Khi đọc xong Hà Nội, Thu trong Tiếng Đêm tôi thầm nhủ: "Như một bức tranh đắc địa về mùa thu? Không! Một bộ phim sinh động về mùa thu? Không! Một mùa thu thực đang dâng dâng đầy ắp quanh ta? Không! Đó là một mùa thu tụ hội, nén dồn mọi mùa thu? Đúng!". Nói tụ hội, nén dồn vì phải trải qua rất nhiều thu Hà Nội tác giả mới trưng cất được những trang, dòng như thế, thêm nữa, Hà Nội, Thu đã cộng hưởng được tâm trạng, cảm xúc của bao người: Bà mẹ già, chàng họa sĩ, nhà thơ, đôi tình nhân, người thiếu nữ... "Thu đến chỉ một lần trong năm. Và nếu có nhớ đến thu cũng phải học cách kiên trì. Ấy là những trang nhật ký của tâm trạng để cất giữ lâu hơn những khoảnh khắc của mùa." - Nhà thơ đang nói về thu hay tự nói với mình? Cả hai! Thu Hà Nội ơi! Nhà thơ đâu chỉ vịn những trang nhật ký, tác phẩm dồn nén bao cảm xúc mà tôi dang đọc đây cũng dành trọn cho thu. Giữ thu lại bằng trang văn khắc khoải có nghĩa là thu ở mãi với nhà thơ. Đặc tả sông Hồng để nói về thu, mượn sông để gửi lòng mình, sẻ chia nỗi niềm sâu kín cùng thu là sự tinh tế đáng yêu của nhà thơ: "Dòng sông thèm lắm những dấu chân trên cát, hay trên bờ bồi đắp phù sa. Dấu hiệu ấy báo cho dòng sông biết nó không bị cô đơn": "Dòng sông cảm nhận được mùa thu qua sự ve vuốt mơn man của làn gió chạy rong ruổi trên mặt nước. Nó rùng mình lăn tăn gợn sóng khi ngọn gió hoặc con tàu đi qua". "Con thuyền già cũ kỹ bên dòng sông vạm vỡ và ánh trăng non đã hòa quyện làm một trong bản tình thu có một không hai. Cái hữu hạn đã ở bên cái vô hạn, cái nhỏ bé đặt bên cái mênh mông... Có lẽ phải như thế, thu mới bù trừ cho sự tròn trĩnh của mơ ước bao đời..."
Với mưa Hà Nội, vẫn là cảm xúc tâm trạng từ thu Hà Nội tràn sang, man mác buồn và nao nao nhớ, nhưng nhà thơ dành thêm một phần để nhấn thêm nỗi buồn về sự biến đổi. Đâu rồi những làn mưa rơi tý tách bên cửa sổ khiến tiếng dương cầm buồn hơn, da diết hơn, thăm thẳm hơn? Đâu rồi những chiếc xích lô ngủ vùi trong mưa, và cũng muốn mưa ru yên sự nhọc nhằn của nó? Đâu rồi những cơn mưa, sau khi đã hóa thân vào những hàng cây, vệt cỏ, nhánh hoa, con đường... đã lưu lại trên vầng trán mẹ? Đâu rồi...? Mưa Hà Nội bây giờ chỉ xuất hiện như một sự nhắc nhở, cảnh báo cho con người biết khi đã cố tình quên đi ý nghĩa và sự hiện diện của nó. "Những trận mưa dữ dội đã ngăn cách những con đường về nhà chỉ trong từng giây, từng phút. Để khép tội và trừng phạt con người...". "Nhờ vào biển nước thăm thẳm, dữ dội, trắng xóa các nẻo đường Thủ đô... ta hiểu mưa không thể kìm nén sự giận dữ của mình". "Nhiều mái phố đã rung lên, hàng cây đã đổ gục, phận người mong manh bên những con nước đục ngầu, chảy xiết... Rồi mưa sẽ cuốn đi tất cả sự phiền muộn, theo con người ra sông, ra biển". Nguyên do ư? Ngắn gọn và sắc lẹm: "Mưa đã cảnh báo, nhưng con người không muốn tin, không muốn hiểu. Đùa cợt với nỗi khổ tâm, mất mát của chính mình và với đồng loại... nên mưa phải ra tay"... Chìm trong mưa, chìm trong những điều phiền muộn, nhưng tôi vẫn nhận ra những tia nắng ấm, những tia nắng từ tình yêu Hà Nội quá thể của nhà thơ, cùng hy vọng về sự tỉnh ngộ của con người.
Trong cụm bài viết về hoa, Hoa sữa Hà Nội để lại trong tôi ấn tượng đặc biệt. Sau các bài Tầm xuân: Mùa hoa loa kèn... ắp đầy chi tiết, cảm xúc, Hoa sữa Hà Nội lắng đọng nhờ sự phát hiện tinh tế về cái mới, cái lạ của loài hoa quá đỗi thân thuộc, khiêm nhường này. "Muốn để tồn tại và khẳng định sự xuất hiện của mình, cây phải vượt qua sự ưu tư trong vị hăng hắc nhỏ nhoi giữa nồng nàn quyến rũ...". "Trong chu trình đến cõi hương ngào ngạt của mình, hoa sữa cũng phải đi bằng một con đường riêng, với lộ trình độc đáo và nhọc nhằn, và chỉ những ai thực sự kiên nhẫn mới có thể nhận ra món quà hoa sữa trao cho mình vào mùa thu...". Tiếp nối những lời lý giải về sức sống riêng mãnh liệt của hoa sữa, được cảm nhận từ tầng sâu tâm hồn đồng cảm, nhà thơ đã nâng cao giá trị của hoa bằng một kết luận ngắn gọn, bản chất: "Nó là loài hoa để con người thưởng ngoạn hương thơm chứ không bao giờ bán tặng cho ai...". Nhờ tác giả hóa thân vào hoa nhiệt thành, có lúc cùng kiệt, hoa sữa đã được nhân hóa để như một biểu trưng về sự khiêm nhường, lặng lẽ hiến dâng. Phận hoa, phận người nhập hòa làm một. Không hiểu người, không thể hiểu hoa...
Cùng với những trang văn da diết về những cánh rừng, về Hà Nội thân thương, trong Tiếng Đêm, tác giả còn gửi gắm tình cảm sâu nặng của mình vào một loạt bài viết về quê hương nguồn cội, về các loài hoa, về tình yêu lứa đôi, đồng loại... Mỗi bài, mỗi loạt bài đều để lại sự ám ảnh riêng bởi cách tiếp cận, khai thác, phát hiện và phương pháp thể hiện luôn đổi mới, sáng tạo. Nhờ có vốn sống dồi dào, quá trình trải nghiệm sâu sắc, thái độ lao động sáng tạo nghiêm túc, cùng trái tim ấm nồng đa cảm... nhà thơ Chu Thị Thơm luôn sớm "về đích" (mà đích lại khá cao) do chính mình đặt ra trong từng bài và trong cả tác phẩm. Phải chăng cái đích chung lớn nhất, xuyên suốt cả tác phẩm, tạo độ rung sâu lắng trong lòng người đọc... mà nhà thơ đã đạt được chính là: Biến mỗi trang văn thành một trang đời, biến cả tập Tiếng Đêm thành người bạn tâm tình tin cậy, thủy chung, tiếp thêm năng lượng cho nhiều số phận?
Hà Nội, hè 2011
N.H.G
Nguồn tin: TCNV 10/2011