Sách in trang trọng, bề thế, khổ 14 x 21, bìa cáctông cứng có áo bọc, giấy đẹp, sách dầy tới 250 trang, gồm lời giới thiệu được dịch sang tiếng Nhật của ông Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, bản dịch tiếng Nhật Truyện Kiều Nguyễn Du đầy đủ 3.252 câu và phần Phụ lục gồm: “Lời người dịch” bằng tiếng Nhật, 132 câu thơ Truyện Kiều nguyên tác bằng tiếng Việt, một trang Kiều bằng chữ Nôm, “Lời giới thiệu” của Ông Giám đốc Nhà xuất bản Văn học bằng tiếng Việt, và “Lời người dịch” bằng tiếng Anh.
Dịch giả Seiji Sato vốn là một kỹ sư, có cơ hội sang Việt Nam năm 2002 và đi nhiều nơi, đặc biệt là ở Hà Nội và vùng châu thổ sông Hồng, tổng cộng trong 8 tháng. Trước đây anh Seiji Sato khi ở trong nước đã nghe nói tới Truyện Kiềuqua cuốn sách Truyện kể về lịch sử Việt Nam của Sadao Ogura, mà anh nhập tâm mấy lời: “Một câu chuyện phiêu lưu và đau đớn của một phụ nữ trẻ được chọn in trong sách giáo khoa Việt Nam, và dân chúng Việt Nam trong đời sống hàng ngày thường lẩy ra trong giao tiếp”. Đến Việt Nam, anh Seiji Sato được tiếp xúc với tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du qua bản dịch tiếng Anh của Lê Xuân Thủy… Xúc động, trở về Nhật Seiji Sato đã quyết định “mở cửa vàoTruyện Kiều” cho bạn đọc Nhật Bản của mình.
Nhưng chính trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu để khẩn trương hoàn thành bản dịch, Seiji Sato lại là người tìm thấy cho chúng ta những thông tin quý giá về người đầu tiên dịch Truyện Kiều ra tiếng Nhật.
Qua tìm hiểu, Seiji Sato được biết người Nhật ngay từ thế kỷ thứ XVIII-XIX cũng đã từng biết đến truyện Kim Vân Kiềucủa Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả người Trung Quốc. Vào năm 1763, một người Nhật có tên Korenori Nishiđa đã in bản dịch sang tiếng Nhật “Câu chuyên Kim Vân Kiều” của Thanh Tâm Tài Nhân. Sang thế kỷ XIX, một người Nhật khác là Bakin Takizawa (1767-1848), năm 1829 lại công bố bản phóng tác truyện này bằng tiếng Nhật. Nhưng sang thế kỷ XX người Nhật bắt đầu được biết đến Truyện Kiều, sáng tác của Nguyễn Du. Và liên tiếp từ năm 1942 đến bản dịch của Seiji Sato, ở Nhật đã có ba bản dịch tác phẩm của Nguyễn Du: Năm 1942, bản dịch của nhà văn Kiyoshi Komatsu (1900-1962), tiếp đó là bản dịch của Yomosuke Takenchi (1922-1999) ra sau năm 1975, và bản dịch của Tôkio Akiyama (1917-1999) ra năm 1996.
Hãy kể đến bản dịch của nhà văn Kiyoshi Komatsu. Trong “Lời người dịch” bằng tiếng Nhật – Kin un kyô, nguyên tác của Nguyễn Du, bản dịch của Kiyoshi Komatsu (Tokyo : Tohô Hakleosho, 1942), trang 335-355 ta được biết: Komatsu đến Việt Nam lần đầu vào năm 1941 (từ xuân sang hè), gặp lại người bạn thân cũ là Nguyễn Giang (1910-1969) và chắc hẳn đã mang về Nhật bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh do Nguyễn Giang tặng Komatsu lúc đó. Komatsu cho biết ông đã tranh thủ dịch xong Truyện Kiều sang tiếng Nhật trong nửa năm; ấn bản tiếng Nhật in vào tháng 10 năm 1942. Theo học giả Vĩnh Sinh, giáo sư lịch sử của trường Đại học Allerta (Canađa) trong thư và tài liệu gửi cho Giáo sư Phan Huy Lê vào năm 1996, theo phỏng đoán thì Komatsu khi dịch đã dựa vào bản dịch có sửa chữa sau cùng của Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản năm 1936. Bản dịch này sau được tái bản năm 1942 (Nguyễn Du – Kim Vân Kiều, Traduction en Francais par Nguyễn Văn Vĩnh avec hors-texte et cu-de-lampe par Manh Quynh, Hanoi, Editions Alexandre de Rhodes).
Ông Vĩnh Sinh trong bài viết của mình cho biết tiểu sử của nhà văn Nhật Bản đầu tiên dịch Truyện Kiều như sau :
Komatsu Kiyoshi là một nhà văn, nhà bình luận và cũng là một nhà nghiên cứu văn học Pháp nổi tiếng. Ông là một trong những người đầu tiên đã dịch và giới thiệu ở Nhật các tác phẩm của André Malraux, André Gide cùng các tư trào mới trong văn học Pháp.
Sinh năm 1900 tại Kobe, Komatsu sang Pháp năm 1921, lúc đầu với dự định theo đuổi hội họa. Sau đó, tình cờ Komatsu trở thành bạn của Malraux và theo Lacouture, nguyên mẫu của nhân vật “Kyo” – nhân vật chính trong tác phẩm La Condition Humaine (Thân phận con người) của Malraux – chính là Kyo Komatsu (tức là Komatsu Kiyoshi), chứ không phải là Chu Ân Lai như một số người lầm tưởng. Lacouture viết: “Nguyên mẫu thực sự của nhân vật Kyo là một nhà văn trẻ tuổi người Nhật, sống ở Paris vào năm 1922 và người đó đã là bạn của Hồ Chí Minh (lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc), và sau này là bạn của Malraux: anh tên là Kyo Komatsu”(1).
Về Nhật năm 1931, Komatsu bắt tay vào dịch thuật và giới thiệu các tác phẩm của Malraux, của Gide, và khởi động phong trào “Văn học hành động”. Ông tham gia vào cuộc luận chiến về “Văn học hành động chủ nghĩa” (1934-1935) qua các tạp chí Kôdô (Hành động), Kôdô bungaku (Văn học hành động), và Kanrin (Hàn lâm). Komatsu trở lại Pháp vào năm 1937 với tư cách là phóng viên của tờ nhật báo Hôchi Shinbun tại Châu Âu.
Ở Paris, ông gặp lại Malraux, gặp Gide lần đầu tiên và sau khi từ chức phóng viên báo Hôchi..., Komatsu viết bài cho tập san Nichi - Futsu Bunku (Văn hóa Nhật - Pháp) ở Paris. Tháng 6 năm 1940, khi Paris sắp rơi vào tay Đức Quốc xã, Komatsu trốn về nước và công bố tập nhật ký Chinmoku no senshi – Sen jika no Pari (Những chiến sỹ trầm mặc – Nhật ký Paris thời chiến), một tác phẩm được đánh giá rất cao. Khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, ông bị nhà chức trách Nhật bỏ tù trong mấy tháng, chắc hẳn vì lập trường chống phátxít của ông. Sau đó Komatsu sang Đông Dương và ở lại Việt Nam 4 năm cho đến năm 1946. Trong thời gian này Komatsu có lẽ là người Nhật giao du rộng rãi nhất với trí thức Việt Nam từ Bắc chí Nam, những người có đủ mọi lập trường chính trị, trong đó có không ít những người sau này tích cực tham gia phong trào Việt Minh như bác sĩ Phạm Ngọc Thạch… Sau khi về lại Nhật, ngoài việc giới thiệu và dịch thuật văn học Pháp, Komatsu có viết hai cuốn “tiểu thuyết hiện thực” có liên quan đến Việt Nam: cuốnVetonamu (Việt Nam), chủ yếu nói về cuộc đời Cường Để và Phan Bội Châu; cuốn Vetonamu no chi (Máu Việt Nam), có tính cách tự truyện(2).
Cần nói thêm là ông Vĩnh Sinh còn cho biết, Komatsu Kiyoshi (Tiêu Tùng Thanh) trong thời gian 4 năm ở Việt Nam đã từng làm cố vấn Viện Văn hóa Nhật bản tại Hà Nội, và một truyện ngắn của ông có nhan đề Cuộc tái ngộ đã được dịch giả Giáng Nguyên (rất có thể là nhà văn Nguyễn Giang, con trai Nguyễn Văn Vĩnh – ở đây viết theo cách nói lái), dịch từ bản tiếng Pháp, đăng liên tục trên 30 số báo Trung Bắc chủ nhật (từ số 208 ra ngày 25-6-1944 đến số 237, kéo dài gần bẩy tháng rưỡi).
Vì là một tác phẩm văn chương nên tên nhân vật đều được gọi chệch đi. Mặc dù vậy, như nhận xét của ông Vĩnh Sinh thì Cuộc tái ngộ tuy mang hình thức là một “truyện ngắn” nhưng cốt truyện cũng như các nhân vật trong truyện không phải được hư cấu theo sự tưởng tượng của tác giả. Cuộc tái ngộ là một tác phẩm phi hư cấu (non-fictional), ngòi bút của tác giả tuy linh động khi tả cảnh cũng như diễn tả và phân tích tâm lý các nhân vật trong truyện, nhưng bối cảnh của truyện cũng như cách nhìn và giải thích của tác giả về các nhân vật trong truyện đều dựa trên các dữ kiện có thực…”(3).
Chính tác giả Komatsu cũng đã xác nhận về lối viết hiện thực của mình sau phần cuối của Cuộc tái ngộ như sau : “Thưa các bạn độc giả, truyện “Cuộc tái ngộ” này thiết tưởng không cần phải nói, các bạn cũng đoán biết rằng còn dài nhiều nữa, vì chúng tôi kể toàn những điều trong mười phần cũng đến chín phần thật, mà biết đâu còn thật hơn cả sự thật một chút, bởi là những điều đang diễn ra trong thực tại mà còn sẽ tiếp diễn mãi trong tương lai sâu kín…”
Chính vì thế mà nhân vật trong truyện có tên “Lê Văn Thái” và ông thân của người này trong câu văn: “Thái đã từ bỏ giấc mộng về hội họa để kế nghiệp cha, chẳng những là một thi sĩ, một nhà luận thuyết, một nhà dịch thuật, mà còn viết sách và xuất bản sách”. Chỉ cần dựa vào “Lời người dịch” trong Kin-un-Kyo (Kim Vân Kiều) mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên, có thể kết luận không sai đó chính là Nguyễn Giang và thân sinh của ông là cụ Nguyễn Văn Vĩnh.
Và nhân vật trong ba số báo Trung Bắc chủ nhật từ số 223 (5-10-1944) đến 225 (22-10-1944), “Người Á Đông đầu tiên đã cùng tôi giao du trong một thời gian khá dài trên đất Pháp”, đối chiếu với thực tế cũng dễ dàng có thể mạnh dạn mà xác nhận đấy chính là Nguyễn Ái Quốc - sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong Cuộc tái ngộ có đoạn kể lại buổi tối giao lưu thân mật với một nhóm trí thức Hà Nội ở nhà ông Lê Văn Thái - Nhân vật “tôi” – tác giả Komatsu cho biết về “người Á Đông đầu tiên” kia :
“…Tôi sang Pháp và tới Paris vào mùa xuân năm 1921. Chỉ mới được vài ngày, nên tôi nhớ kỹ, thì độ mươi ngày sau khi tới Paris, một sự tình cờ run rủi, tôi gặp một người thanh niên Việt Nam trong một nơi hội họp công khai. Người thanh niên Việt Nam ấy chính là người Á Đông đầu tiên đã cùng tôi giao du trong một thời gian khá dài trên đất Pháp.”
…“Tôi có thể nói ngay với ông rằng người Việt Nam đó thật là một người đáng kính, đáng phục, một người xứng đáng với cái danh hiệu là Một-Con-Người”.
“Người ấy với tôi, xưa kia chẳng phải cùng chung một chí hướng. Quan niệm của chúng tôi về cuộc đời, về văn chương cũng như về nhiều thứ khác đều chẳng giống nhau. Nhất là những tư tưởng về phương diện văn hóa, chúng tôi lại có phần xa nhau lắm. Ý kiến của chúng tôi nhiều khi tương phản nhau một cách đầy gay go kịch liệt. Chúng tôi đương trẻ trung, chẳng phải dễ mà nhường nhịn châm chước cho nhau được. Đẹp đẽ thay cái tuổi thanh niên thẳng ngắc: chẳng bao giờ dung túng những sự nửa vời ba phải! Tuy nhiên, về đường lý tưởng chúng tôi dẫu có điều khác nhau thật, vậy mà người thanh niên Việt Nam ấy bao giờ cũng để lại trong lòng tôi một mối tình thành thực tôn trọng, vì tôi biết hơn ai hết, bạn tôi là người luôn luôn trung thành với chí nguyện cùng tư tưởng của mình, mà lại đã bao phen có những hành động thiết thực chứng tỏ rõ ràng tấm gan sắt đá quyết một đời phụng sự. Bạn tôi thật là một người yêu nước dù trong trường hợp nào, trên đường đời gặp phải những nỗi gian lao, cực khổ đến bực nào, tấm lòng ái quốc vẫn đinh ninh là một”.
“Người ấy làm một nghề ăn lương công nhật mà sống, các ông chẳng thể tưởng tượng được khổ cực là ngần nào. Người ấy ăn rất ít, ngủ rất ít, làm việc rất nhiều. Mỗi buổi chiều, khi đã làm xong công việc khó nhọc, một chân thợ phụ trong xưởng máy, người ấy lại ngồi vào bàn viết lách hoặc đọc sách. Khốn nạn thay ! Thân thể anh ta khi ấy đang bị tàn hại bởi một chứng bệnh ác nghiệt, mà chẳng mấy khi người đã mắc lại có thể khỏi được. Hai mắt anh thường sáng quắc lên bởi cơn sốt râm rỉ bên trong. Đôi khi anh ho rũ rượi như người sắp tắt thở. Ấy vậy mà cuộc đời tinh thần của anh vẫn dồi dào phong phú, sự hoạt động của anh vẫn ráo riết không ngừng. Hai ba lần, tôi được dịp nghe anh nói trước mặt những thính giả người Pháp bằng tiếng Pháp, lời lẽ rất trôi chảy, hùng hồn. Anh làm trợ bút cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo ở Paris bằng cách cứ ngồi nhà viết bài và gửi đến đều đặn”.
Mặc dù nhân vật “tôi” – tác giả trong câu chuyện, từ chối nêu tên người bạn Việt Nam của mình, thậm chí cả tên tập khái luận đầu tiên của anh viết bằng tiếng Pháp in tại Paris tặng cho mình trong lần đầu tiên anh đến thăm Komatsu vào cuối năm 1921, khi ấy Komatsu sống trong căn phòng nhỏ thuê ở mãi trên tầng 8 ở lộ Montparnasse, hơn thế nữa khi bị truy hỏi Komatsu còn xin mọi người trong cuộc tạm coi “người bạn tôi kể chuyện với các ông đây chỉ là một người tưởng tượng, một người gương mẫu không có thật”. Nhưng, mọi chi tiết về người bạn Việt Nam, những nhận định về con người đó đã làm cho mọi người đoán ra người ấy là ai. Cuối cùng, sau những nghi ngại vì chưa rõ đối tượng nghe mình, hiểu được đó là những con người có thể tin cậy được, Komatsu đã chia sẻ: “…chính vì thế mà tôi chẳng ngại ngùng nói với ông rằng, người ấy thật đáng cho chúng ta sùng phục và tán dương, chỉ vì người ấy đúng là một người Á Châu mà hoạt động, chẳng cần biết người ấy trong khi hoạt động có nghĩ đến cái tinh thần Phương Đông mang trong mình hay không? Cái “Nhân sinh, điều kiện” của anh ta đã khiến cho anh ta gần Á Châu hơn tôi, đó là ý kiến của tôi về anh ấy”.
Tuy trở thành bạn của nhau, nhưng sau những lần đầu gặp nhau, thăm hỏi trò chuyện với nhân vật “tôi” – tác giả Komatsu và người bạn Việt Nam của mình cũng ít có điều kiện gặp lại nhau. Sau đó Komatsu đi xuống miền Nam nước Pháp sống ẩn dật, còn người bạn Việt Nam của ông lại rời Pháp “đi sang những nước ở Bắc Âu châu, và đã trở thành một nhà văn có tiếng sau khi được mấy nhà xuất bản ở Berlin và Prague in cho các tác phẩm”. Nhưng Komatsu vẫn theo dõi tin tức về bạn mình và tin tưởng: “…hiện giờ thì hẳn ông ta đang tiến bước trên con đường lý tưởng của mình, bao giờ cũng mang theo với ông ngần ấy mối khổ tâm hoặc hy vọng, dẫu là ở địa cầu này hay ở địa cầu khác cũng thế mà thôi”. “Ông ta đã làm hết những sự mà trí khôn ông ta xét là cần phải làm. Chỉ thế thôi cũng đủ là đẹp, là lạ lùng, ly kỳ rồi, còn phải thêm gì hơn nữa? Một người như ông có thể buông xuôi hai tay, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, không chút hối hận gì trong lương tâm. Đối với số đông con người ta coi cuộc đời không có nghĩa gì cao hơn giá áo túi cơm, thì ông chỉ là một kẻ ngu ngốc, hy sinh đời mình vì một lý tưởng hoang đường, chẳng có kết quả gì thực hữu. Nhưng tôi thì, trái lại với cái khôn ngoan tầm thường của đám tiểu nhân sống như lợn đó, tôi dám tin rằng đời ông là một cuộc đời rực rỡ đầy đủ. Đức thánh Khổng đời xưa có câu: “Buổi sáng được nghe thấu đạo, thì ngay buổi chiều dù có phải chết cũng mãn nguyện rồi”. Tôi cũng tin rằng chỉ duy những người có niềm tin rất bền vững về một chân lý ở đời mới được nếm hưởng cái sung sướng chân thực của một con người trong nhân loại… Chính giờ đây, tôi vẫn không tán đồng những quan niệm cùng lý tưởng của ông về cuộc đời, về thế giới, tuy vậy, xét về nhân cách, tôi vẫn phải thành kính ngưỡng mộ lòng tin tưởng của ông trước sau bao giờ cũng là một, ảnh hưởng hành vi của ông dẫu phải qua những lúc thất bại chán nản đến mức nào, cũng vẫn y nguyên cho đến chết. Tôi lại phải thành thực khen lại một lần nữa tấm lòng ái quốc của ông. Chính ông đã dạy cho tôi một bài học yêu nước mà không bao giờ tôi quên được…”
Câu chuyện kể của nhà văn Nhật Kiyoshi Komatsu về người bạn Việt Nam gặp gỡ ở Paris trong tryện ngắn Cuộc tái ngộ của ông được Giáng Nguyên dịch đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật tại Hà Nội vào năm 1944, ở phần cuối buổi giao lưu giữa tác giả với nhóm trí thức Hà Nội, cũng phần nào cho người đọc đoán biết “anh bạn của ông” là ai. Sau này câu chuyện đó đã được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận bằng tài liệu lịch sử khác nhau và đã đưa lên sách báo.
Kiyoshi Komatsu (1900-1962) lần đầu tiên đặt chân lên đất Pháp vào tháng 8-1921 với dự định trở thành họa sĩ. Đến Paris, Komatsu ở chung nhà với họa sĩ Sakamoto và một người Nhật khác – ba người tình cờ gặp nhau trên chuyến tầu từ Nhật sang Marseille. Phòng trọ của Komatsu nằm chót vót trên tầng tám áp mái trong một tòa nhà không có thang máy ở gần nghĩa địa Montparnasse. Chính căn phòng này là nơi Nguyễn Ái Quốc đã đến thăm Komatsu lần đầu tiên, đúng như Komatsu đã nhắc lại trong Cuộc tái ngộ.
Những chi tiết nêu ra trên đây hoàn toàn trùng hợp với các tư liệu bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp. Chúng ta có thể tìm thấy, chẳng hạn trong cuốn Thời thanh niên của Bác Hồ của tác giả Hồng Hà có ghi lại: ngày 14-3-1923 anh (Nguyễn Ái Quốc) dọn về ở ngay trụ sở báo Người cùng khổ, mang theo một cái giường cá nhân và một chiếc va li mà mật thám đến khám chỉ thấy toàn sách ở trong. Mạng lưới mật thám theo dõi anh tại Paris tăng lên từ khi Bộ Thuộc địa lập một tổ chức mới chuyên theo dõi những người Đông Dương ở Pháp. Chúng đến khám xét cả những người nước ngoài sống ở Paris hay liên lạc bằng thư từ hoặc đi lại gặp gỡ anh Nguyễn. Trong số những người đó có anh sinh viên Nga Mikhailôpxki Pêtơrôp ở số nhà 6 phố Gay Luyxắc, có nhà yêu nước Ấn Độ Alitaba Gôdơ, có nhà yêu nước người Ailen ở gác 3 số nhà 12 phố Capuyxin, có nhà văn Nhật bản Kiôshi Komatxư (Komatsu Kiyoshi)(5)… Tác giả Thu Trang trong công trình Nguyễn Ái Quốc ở Paris, 1917-1923 cũng cho biết: “Trong khoảng thời gian này (nửa cuối năm 1921), theo mặt báo, Nguyễn Ái Quốc cũng đã nhận được nhiều thư từ các nơi gửi đến, từ Việt Nam sang, những nơi khác là Anh, Mỹ, Cuba và có một thư do người Nhật tên là Komatsu gửi đến(6) …”, v.v…
Còn một tài liệu đáng tin cậy nữa mới được công bố trên tạp chí Xưa & Nay của Viện Sử học Việt Nam số 29 năm 2002 với nhan đề “Nhà văn Nhật Bản Kiyoshi Komatsu và Nguyễn Ái Quốc” của tác giả Đinh Mạnh Thoại cũng khẳng định mối quan hệ thân thiết giữa hai người thanh niên yêu nước của hai dân tộc Việt - Nhật gặp nhau ở Paris vào đầu những năm 20 của thế kỷ trước. Ông Đinh Mạnh Thoại từng có thời gian bảy tháng làm thư ký cho Komatsu Kiyoshi khi ông này sang làm việc ở Việt Nam những năm 1940. Trong vài dòng hồi ký, ông Thoại đã kể câu chuyện đối thoại giữa ông chủ Komatsu và ông hơn nửa thế kỷ trước ở sảnh villa số 11 phố Colombert, Sài Gòn (nay là Thái Văn Lung, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong buổi tối hôm ấy có hai người, nhà văn Nhật Bản Komatsu đã hỏi ông Thoại về Nguyễn Ái Quốc. Trong bối cảnh đất nước lúc đó, khi quân đội Nhật và giới thương mại chính trị Nhật đang đổ vào Đông Dương tuyên truyền rầm rộ thuyết Đại Đông Á, e ngại nên ông Thoại còn ngập ngừng và trả lời cho qua chuyện: “Thú thực với ông, tôi không rõ nhiều về ông Nguyễn Ái Quốc!”. Sau câu trả lời trên, ông Thoại kể: “cứ tưởng trả lời tránh né là xong. Nào ngờ, cơn lôi đình ập đến, con người ông bật đứng dậy, vươn người qua bàn mây, hai tay ông đập mạnh vào vai tôi, giọng cáu kỉnh, ông giằn từng tiếng :
- Ông là đứa con nít, là lyceen (học sinh trung học) trường bảo hộ, vào đời, ông có vợ, lại là người Việt Nam nữa, vậy mà ông không rõ lắm về ông Nguyễn Ái Quốc? Ông thật đáng thương và đáng trách!...
- “…Ông Thoại, thật con nít quá. Nguyễn Ái Quốc là bậc đại tài đã cống hiến vô cùng lớn lao cho dân tộc ông. Bản thân tôi khâm phục, và lúc nào cũng nhớ đến ông Nguyễn Ái Quốc!”
Truyện Kiều của Nguyễn Du không ngững được cả dân tộc ta, mọi thế hệ, mọi giai tầng xã hội yêu quý trân trọng, mà đã và tiếp tục được bạn bè thế giới biết đến và trân trọng yêu quý. Ở Nhật như vậy là cho đến nay trong vòng gần trăm năm đã có tới bốn bản dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du, và thật đáng tự hào là bản dịch đầu tiên Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Nhật lại do nhà văn Komatsu Kiyoshi, người đã từng là bạn thời trẻ của Nguyễn Ái Quốc ở Paris, thực hiện. Biết đâu đó, có khi Komatsu bắt tay vào dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du một phần là do đã là bạn của Nguyễn Ái Quốc.
------------------
CHÚ THÍCH:
(1) Jean Lacouture, André Malraux (Bản tiếng Anh do Alan Sheridan dịch) New York: Pantheon Books, 1975, tr. 146.
(2) Theo Vĩnh Sinh - một nhà văn Nhật viết về Nguyễn Ái Quốc trong thời gian ở Pháp. Tạp chí Xưa & Nay số 27, tháng 5 năm 1996, tr. 21.
(3) Như chú thích (2), tr. 19.
(4) Trung Bắc chủ nhật, số 237, tr. 23
(5) Hồng Hà, Thời thanh niên của Bác Hồ, Nxb. Thanh Niên, 1994, tái bản lần thứ 3 có bổ sung, tr. 160.
(6) Thu Trang, Nguyễn Ái Quốc ở Paris, 1917-1923, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam xuất bản, 1991.
(Tạp chí Văn học nước ngoài số 4/2012)
Tác giả bài viết: Thúy Toàn
Nguồn tin: Tạp chí Văn học nước ngoài 4/2012
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Nhà văn Lê Minh Khuê: Không hiểu sao mình lại viết được như thế
Nhà văn Võ Quảng: Ông già nhân hậu viết cho thiếu nhi
Nguyễn Đình Thi - một quãng đời
Đang truy cập :
35
•Máy chủ tìm kiếm : 9
•Khách viếng thăm : 26
Hôm nay :
2905
Tháng hiện tại
: 129371
Tổng lượt truy cập : 3691095