01:20 ICT Thứ sáu, 18/04/2014

Trang nhất » Tin Tức » Đời sống Văn học

DƯƠNG THUẤN - một phong cách thơ độc đáo

Thứ năm - 10/05/2012 10:54


                                      Nhà thơ Dương Thuấn



TĂNG THỊ NGUYỆT NGA

DƯƠNG THUẤN -

một phong cách thơ độc đáo

 
 
Những năm gần đây, thơ dân tộc thiểu số ngày càng phát triển, đã khẳng định được vai trò vị trí của mình trong đời sống văn học nước nhà. Hiện nay tên tuổi các nhà thơ là người dân tộc thiểu số trong Hội Nhà văn Việt Nam không còn hiếm. Đó là: Y Phương, Dương Thuấn, Lò Ngân Sủn, Mai Liễu, Inrasara... họ đã trở thành quen thuộc với cả nước. Tuy nhiên, đội ngũ văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch, chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, càng đi vào Nam càng ít. Trong đội ngũ nhà văn các dân tộc thiểu số ở nước ta phần lớn là dân tộc Tày, từ trước đến nay người Tày đã có các tên tuổi trong thơ ca như: Hoàng Đức Hậu (1890-1945), Hoàng Văn Thụ (1909-1944) Nông Quốc Chấn (1923-2002), Nông Viết Toại, Triều Ân, Dương Thuấn, Y Phương, Mai Liễu, Triệu Lam Châu, Lương Định, Dương Khâu Luông, Nông Ngọc Hòa... Đấy là chưa kể các nhà văn Nông Minh Châu, Vi Hồng, Hoàng Hạc, Hà Lâm Kỳ, Hữu Tiến...
Hòa cùng dòng chảy đổi mới của văn học cả nước, nề̀n văn học các dân tộc thiểu số đã bắt nhịp vào văn học chung của Việt Nam và thế giới. Cho dù viết ở mảng đề tài nào thì những trang thơ của các thi sĩ dân tộc thiểu số vẫn tạo được những nét đẹp rất riêng. Thơ các tác giả dân tộc thiểu số nhìn chung đều mang vẻ đẹp ở sự diễn đạt dung dị. Tuy nhiên một vấn đề bất cập là hầu hết tác giả dân tộc thiểu số sáng tác bằng tiếng Việt. Chúng ta có thấy nhiều nguyên nhân của thực trạng này nhưng không dễ dàng khắc phục. Có thể là chính một số nhà thơ người dân tộc thiểu số đã quên tiếng mẹ đẻ hoặc không biết tiếng mẹ đẻ. Hoặc cũng có những tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc nhưng khó khăn trong việc in ấn và ít độc giả... Đây là một điều đáng buồn cho văn học các dân tộc thiểu số. Việc bồi dưỡng đào tạo, hướng dẫn sáng tác cho các nhà văn trẻ người dân tộc thiểu số chất lượng còn yếu kém.
Nhà thơ Dương Thuấn thuộc thế hệ thứ ba sau 1975, xuất hiện và trưởng thành trong thời kỳ đổi mới. Dương Thuấn là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Tày nói riêng và thơ Việt Nam đương đại nói chung. Ông góp vào làng thơ đất Việt một phong cách thơ độc đáo khó lòng trộn lẫn với trường bản sắc quê hương thẩm thấu, xuyên suốt trong từng nét thơ. Đến nay, Dương Thuấn có một sự nghiệp sáng tác đáng nể với 16 tập thơ, 2 trường ca và đặc biệt là bộ Tuyển tập thơ song ngữ Tày - Kinh công phu trên 2000 trang khiến không ít người thán phục. Trên báo Văn nghệ số ra 24-12-2011 nhà thơ Triệu Lam Châu đã viết: "Có thể nói qua tuyển tập thơ song ngữ Tày - Việt đồ sộ này của Dương Thuấn, hiện thực và tâm hồn người miền núi đã được tỏa sáng với một vầng hào quang mới rất đáng tự hào. Núi non, đất trời lồng lộng của miền cao và nền văn hóa Tày đặc sắc đã kết tinh thành một tiếng thơ Dương Thuấn độc đáo hôm nay". Hồn thơ của Dương Thuấn đã được ươm mầm từ cội rễ quê hương. Sinh ra ông có một người mẹ thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ và thường lấy đó dạy bảo con, nên tuổi thơ ông đã được nuôi lớn dần theo những câu ca dao tục ngữ của mẹ. Ở bản Hon quê ông có tục lệ vào những dịp lễ tết hoặc vào nhà mới những người dân bản thường chụm đầu vào để ngâm fong slư và cậu bé Dương Thuấn đã bén duyên với lòng say mê văn học từ đó.
Dương Thuấn khi lớn lên ông thi vào Đại học Sư phạm văn, tốt nghiệp ra trường về quê lấy vợ sinh con và ông đã khởi nghiệp thơ ca cho mình bằng những bài thơ viết cho con đọc. Ông kể rằng, ông bắt đầu làm thơ vì một lý do đơn giản là "các cửa hàng sách lúc ấy không có thơ hay cho con ông đọc". Từ những bài thơ viết để đọc cho con ông đã có tập thơ đầu tay Cưỡi ngựa đi săn được tặng giải A Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1992 và giải thưởng Hội giao lưu văn hóa Nhật - Việt. Ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Viết văn Nguyễn Du với tập thơ Đi tìm bóng núi, năm giám khảo bỏ phiếu 5/5 cho điểm 10, sau đó được giữ lại trường. Ông đã thành danh trước khi được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993. Từ đó đến nay ông không ngừng lao động sáng tạo và dành được nhiều thành tựu thơ được độc giả và xã hội ghi nhận. 
Đến với thơ Dương Thuấn, điều thu hút lôi cuốn đầu tiên đối với tôi là sự mới lạ của một phong cách đậm đà tính dân tộc. Đó là một tiếng thơ thẫm đẫm tình yêu thiên nhiên làng bản. Ông may mắn được sinh ra và lớn lên ở vùng Ba Bể - Bắc Kạn, nơi nổi tiếng có phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, con người hiền hòa mến khách, với câu ca dao từ lâu đã đi vào lòng người "Bắc Cạn có suối đãi vàng/ Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh". Quê hương đã nuôi lớn hồn thơ ông. Ông tự hào về vùng quê yêu mến mà ông gọi là "xứ Mây":
Quê tôi núi ngàn cao vời và lớn rộng
Sáng sớm sương trời bay trắng lòng thung

Chiều về từng đàn mây vờn nhau trên cỏ

Xuân đến hoa đào nở đỏ,
hoa lê trắng ngần...
(Quê tôi núi ngàn)
Dương Thuấn có một loạt những bài thơ về con người xứ Mây: Cô gái xứ Mây; Bà mẹ xứ Mây; Em bé xứ Mây; Người xứ Mây... Cách gọi tên này nói lên niềm tự hào của ông về quê hương mình. Nơi nhà thơ sinh ra và có một tuổi thơ tươi vui ở vùng cao, bên sườn núi quanh năm mây phủ trắng. Ở đây cây trái bốn mùa tươi tốt vì có khí trời trong mát, lại được dòng nước sông Năng lượn quanh. Đặc biệt vào những lúc bình minh, khi những tia nắng chiếu thì dường như cả bản vẫn còn lẩn quất trong những đám mây hồng, những dải sương mờ. Nếu từ xa nhìn lại sẽ thấy bản Hon như một vùng tiên cảnh với những nóc nhà sàn thấp thoáng trong sương. Người dân bản Hon, mỗi sáng sớm thức dậy cùng mây trời, đi lại trong bản mà như đi trên mây, người và mây quấn quýt hòa lẫn trong nhau. Mọi cảnh sinh hoạt hằng ngày đều bắt đầu từ việc cùng mây bước xuống cầu thang...
Trong thơ của mình, Dương Thuấn khắc họa thiên nhiên xứ Mây với vẻ đẹp vừa nên thơ vừa hùng vĩ. Ta có thể bắt gặp rất nhiều tên đất, tên làng, tên núi, tên sông trong thơ ông như: động Puông, thác Đầu Đẳng, hồ Ba Bể, dòng sông Năng, đèo Cửa Gió, núi Đán Khảnh, đèo Bông Lau, ngòi Thia, núi Cơm Chiều, Pù Lọ, Pù Đồn... Tất cả đều được hiện lên với vẻ đẹp nên thơ của một chốn non nước hữu tình:
Đứng trong mây nhà bốn mái lưa thưa
Con sông Năng chảy lượn vòng qua giữa
(Mùa xuân bản Hon)
Quê hương là đề tài của nhiều nhà thơ nhưng ít có vùng quê nào hiện lên sinh động, nên thơ như bản Hon trong thơ Dương Thuấn. Nhà sàn thường gắn liền với núi cao, rừng thẳm nhưng ở bản Hon phong cảnh thật vui tươi. Thiên nhiên thường đẹp nhất vào mùa xuân. Mùa xuân Việt Bắc xinh tươi, tràn đầy sức sống được nhà thơ miêu tả với vẻ đẹp rất đặc trưng miền núi:
Tháng giêng mùa xuân tới
Hoa đào xứ Bắc nở tưng bừng
Núi tiếp thung. Rồi lại thung tiếp núi
Sắc đào trong sương sớm long lanh
Sắc đào trải theo núi mông mênh...
(Hoa đào xứ Bắc)
Không phải là cành đào, cây đào mà là cả cánh rừng bạt ngàn hoa rực rỡ. Bởi vậy, với Dương Thuấn không nơi đâu đẹp như quê hương mình. Không chỉ đẹp vào mùa xuân, cái xứ "gió ngàn bay" ấy là "Quê hương bốn mùa hoa nở". Sống trong khung cảnh thiên nhiên như thế, con người có biết bao kỉ niệm êm đềm.
Đêm trăng bản nhà sàn say múa
Cô gái quay xa kéo sợi chỉ dài
Buộc con thuyền đêm neo vào bến
Buộc hồn của núi với hồn ai
(Mời anh về Ba Bể)
Bản Hon vào những đêm trăng sáng thật hữu tình. Có sống ở miền núi ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp choáng ngợp, gợi tình quyến rũ của những đêm trăng. Bản Hon càng đẹp hơn, nên thơ hơn trong những đêm ánh trăng lấp lánh trên mặt sông Năng. Không gian ấy chỉ có là không gian của tình yêu "Những tối trăng vàng em và tôi cùng tắm/ Nước sông làm da thịt em trắng thơm tho". Tình quê càng đậm đà, chân thành qua những lời thơ rất gần với lời ăn tiếng nói của người dân xứ núi đầy chất thơ. Cứ vậy như Dương Thuấn chinh phục bạn đọc bằng cách riêng của mình.
Đọc thơ Dương Thuấn, ta không chỉ thích thú thưởng ngoạn những cảnh sắc thiên nhiên xứ Mây, làm quen với những con người xứ Mây tuyệt vời mà còn được biết đến một dân tộc Tày giàu truyền thống văn hoá đáng tự hào. Đó là các phong tục tập quán có từ hàng ngàn đời nay của dân tộc anh. Thơ Dương Thuấn giống như những ghi nhận về dân tộc học, văn hóa học, nhưng phía sau nó là cuộc sống ấm áp tình người, tình đời. Đón giao thừa bao giờ cũng là thời điểm linh thiêng nhất trong lễ tết. Phong tục mỗi nơi một khác, điều đặc biệt là những phong tục cưới xin, thờ cúng, ma chay của người Tày lại được Dương Thuấn tái hiện bằng thơ. Điều này cũng thể hiện phong cách riêng của Dương Thuấn, ông luôn tự hào về dân tộc ông.
Trên đường đời và thơ, Dương Thuấn không đơn độc vì luôn có sự "đồng cam cộng khổ" của người vợ hiền mà ông rất mực thương yêu. Ông là một người sống trọn vẹn với thơ và người thân gia đình.Trong thơ mình, ông đã luôn dành những tình cảm yêu thương chân thành cho người vợ yêu dấu. Ông ví người phụ nữ như cánh cửa của căn nhà, thật là tuyệt hay. Người vợ là cánh cửa che chắn cho chồng mình, ngôi nhà của mình.
- Từ khi có em làm vợ
Nhà anh đã có cửa rồi
- Có em đi đâu cũng đến
Cho dù đất trời mênh mông
(Tặng em)
Cả một hồn thơ dạt dào, rộng lớn ẩn chứa trong con người nhà thơ điềm đạm, hiền lành. Đọc thơ để thấy người, thơ ông không tô điểm bằng lắm sắc màu ngôn ngữ và kỹ thuật rối rắm vẫn thường gặp như các nhà thơ khác hiện nay mà ông nghiêng về lối "kể tả" tâm tình hết sức đặc trưng miền núi. Giọng điệu thơ ông không thể lẫn vào đâu được. Thơ ông thiên về trữ tình nhưng lại mang tính triết luận chiêm nghiệm về cuộc sống, về thế thái, nhân tình sâu sắc... Ông đã nhận thấy sức mạnh ẩn tàng trong nhân dân mình. Không phải ai cũng có được câu thơ như thế này như thơ Dương Thuấn, nếu không có tư duy rất sắc sảo.
 Bàn tay mềm nhuộm chàm khâu áo
 Bàn tay đó sẽ làm thế giới đổi thay
(Bàn tay vươn dài)
Hoặc khi ông sử dụng biện pháp đối lập để làm nổi bật triết luận về con người "Người đầy chữ thường ít nói, kẻ ít chữ lại hay khoe". Ông làm thơ với sự thống nhất giữa cụ thể và khái quát, giữa thực và hư, giữa cái phi lý và cái có lý, triết luận và thực tế để tạo cho mình một giọng thơ riêng khắc lòng tạc dạ vào độc giả. Một nhà thơ tài năng bao giờ cũng có ngôn ngữ và tư duy riêng, Dương Thuấn đã thể hiện điều đó rất độc đáo mà người khác sẽ không dễ gì làm được.
Trong thơ Dương Thuấn hay nhắc tới những mốc thời gian khác nhau của cuộc đời. Đặc biệt trong đó ngày "ra đi" và ngày "trở về" được tác giả nói nhiều hơn cả. Thời gian khách quan tuyến tính trôi về phía tương lai còn thời gian nghệ thuật trong thơ Dương Thuấn chủ yếu lại là thời gian ngược hồn thơ mình về tắm trong suối nguồn văn hóa quê hương. Ông là người sống mãi với thời gian, ông cũng thường sử dụng hình ảnh "cơn lũ thời gian" để diễn tả những bước đi vô hình nhưng có sức bào mòn nghiệt ngã.
Cơn lũ thời gian không gì ngăn nổi
Cuốn anh và em chóng tới già
Cuốn tất cả mọi người đi về cõi chết...
(Cơn lũ rừng - cơn lũ thời gian)
Về thể thơ, trong những sáng tác của thi sĩ người Tày này cũng có nhiều nét mới riêng. Sở trường của Dương Thuấn là thơ tự do. Khảo sát các bài thơ viết về bản Hon của Dương Thuấn ta thấy (401/455 bài thơ tự do, chiếm 88%). Là thể thơ giúp nhà thơ tha hồ "tỉ mẩn tô vẽ" những nét đẹp quê hương theo đúng điệu cảm nhận của trái tim ông mà không cần phải gò bó giới hạn bởi số lượng câu chữ. Hoàng Văn An nhận xét: "Dương Thuấn có tài viết thơ tự do, thơ anh phóng khoáng, nhiều hình, nhiều vẻ, có hồn và tạo được đặc sắc riêng của miền núi, của một nhà thơ dân tộc Tày, gây được ấn tượng tốt" [28, tr. 125]. Ngoài ra ông còn sử dụng một số thể thơ khác như ngũ ngôn (24/455 bài chiếm 5,2%), thơ bốn câu (22/455 bài chiếm 4,8%), thơ thất ngôn (8/455 bài chiếm 2%). Thể thơ thất ngôn tuy không nhiều nhưng ở thể thơ này Dương Thuấn rất riêng và độc đáo. Đặc biệt thơ Dương Thuấn thường là rất súc tích, ngắn gọn. Trong tổng số 455 bài thơ được khảo sát thì có tới 31 bài 8 câu (chiếm 6,8%), 24 bài 6 câu (chiếm  5,3%), 23 bài 10 câu (chiếm 5,1%), 22 bài 4 câu (chiếm 4,8%), 20 bài 9 câu (chiếm 4,4%), 12 bài 5 câu (chiếm 2,6%), 10 bài 7 câu (chiếm 2,2%), 1 bài 3 câu (chiếm 0,2%). Còn lại 313 bài song cũng không dài, chủ yếu là các bài từ 11 đến 15 câu.
Dương Thuấn là một người con ưu tú của dân tộc Tày ở Bản Hon, Bắc Kạn, ông đã vượt qua bao đèo núi để mang "hồn thơ rộng mở" của mình hòa vào thi đàn Việt Nam đương đại. Ông đã "đi bộ xuống đồng bằng", mang theo hành trang là cả một truyền thống văn hóa Tày phong phú cùng biết bao tình yêu thương của những người thân ở bản Hon. Có lẽ vì thế mà ngay từ khi còn là học viên của Trường Viết văn Nguyễn Du, Dương Thuấn đã được bạn đọc yêu thơ biết đến từ những tác phẩm đầu tay ấn tượng như bài Lá giầu và tập thơ Cưỡi ngựa đi săn. Ngay từ khi mới đến với thơ ca, Dương Thuấn đã nhanh chóng khẳng định tên tuổi của mình trên thi đàn với nhiều giải thưởng có giá trị. Ông xứng đáng là đại diện xuất sắc của các nhà thơ dân tộc thiểu số và các nhà thơ cả nước thuộc thế hệ thứ ba.
Đến với hồn thơ Dương Thuấn là đến với tình yêu ông dành cho bản Hon của người Tày ở Bắc Kạn. Dương Thuấn đi nhiều, viết nhiều song quê hương luôn là nguồn cảm hứng vô tận và là nỗi trăn trở không nguôi của nhà thơ. Mặc dù đã cùng gia đình chuyển xuống sinh sống và công tác ở thủ đô nhiều năm nhưng trái tim thơ của ông thì còn neo đậu mãi với vùng núi rừng đại ngàn Việt Bắc. Dương Thuấn đến với "nàng thơ" bằng tiếng nói từ một "chàng trai của núi chỉ biết nói lời cho quả sai". Chàng trai ấy đã góp mặt với thi đàn bằng một phong cách thơ độc đáo, đậm đà bản sắc vùng cao. Những bài thơ của ông là những tình cảm chất chứa cất lên từ tâm khảm của một người con dù đi xa vẫn luôn một lòng đau đáu nhớ quê hương. Dương Thuấn không chạy theo các "mốt thơ" hiện đại cầu kỳ khó hiểu, ông trở về nguồn bằng những vần thơ làm đẹp quê hương. Dưới ngòi bút của ông, cảnh sắc và con người Bản Hon đã đến được với độc giả khắp mọi nơi một cách tự nhiên, gần gũi. Dương Thuấn tự hào mời gọi bạn đọc về thăm bản Hon quê ông. Nơi đây mãi cất giữ những hoài niệm đẹp cũng như những khát vọng đầu đời của một tâm hồn lắm hoài bão. Tự hào vì chốn sinh ra là một vùng đất núi sông tươi đẹp, ông không bao giờ biết mệt ca ngợi cảnh sắc quê nhà vì vậy ông đã thành công.
Gắn với mảnh đất ấy, núi sông ấy là các thế hệ người Tày. Với tâm thế của một người con quê hương, nhà thơ Dương Thuấn đã rất thành công khi khám phá những nét đẹp của người dân nơi đây.  Lối so sánh, ví von hay cách liệt kê các  sự vật mang tính vật chất hóa cũng góp phần tạo nên nét đáng yêu riêng của thơ ông.
Hiện nay Dương Thuấn cùng gia đình đang sống ở thủ đô Hà Nội, ông cũng có khá nhiều bài thơ viết thành phố nhưng hồn thơ ông vẫn là của Bản Hon. Ông có một giọng thơ rất đặc sắc nhờ nơi chôn rau cắt rốn với biết bao hồi ức tươi đẹp. Chính đặc điểm này đã quy định những đặc trưng riêng của không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ ông. Đó là không gian được tái tạo từ những kỷ niệm của nhà thơ, là quê hương trong tâm trí tác giả. Thời gian nghệ thuật cũng vì thế lùi về "ngày xưa" theo từng hồi ức của thi sĩ. Nhiều bài thơ được khởi hứng từ hiện tại để từ đó hồn thơ ông về lại những ngày tháng đã qua. Cứ thế thơ Dương Thuấn tuôn chảy theo những ký ức xuyên thấu mọi thời gian và không gian, để hôm nay bạn đọc gần xa được chia sẻ, đồng cảm.
 
Nha Trang, tháng 12-2011
T.T.N.N

Nguồn tin: TCNV 05-2012

Tổng số điểm của bài viết là: 33 trong 8 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn