|
Quả bom Mỹ lần đầu ném xuống Hà Nội trong chiến tranh phá hoại đã rơi xuống phố Huế vào mùa hạ năm 1967, còn những trái bom sau cùng đã trút xuống khu Khâm Thiên vào một đêm tháng Chạp năm 1972. Hậu phương miền Bắc những năm đó đã nằm trong bom, trong lửa, là một mặt trận lớn.
 |
| Chùa Trấn Quốc (ảnh: Hoàng Đức Thự) |
Hà Nội nói nhiều trên các loa phóng thanh báo động, nói gay gắt bằng máy bay, tên lửa, bằng các cỡ súng phòng không ở mọi hướng. Nhưng dưới các mái nhà, trong các căn hầm chật hẹp, Hà Nội rất kiệm lời.
Cũng vào những năm tháng sôi sục đó, bộ đội phòng không nảy ra sáng kiến đưa súng máy lên đỉnh cầu Long Biên, đối mặt với quân thù. Có 8 khẩu 14 ly 5 được đặt trên 8 nhịp. Những người lính trẻ quê quán ở các làng trong vùng châu thổ sông Hồng. Họ thay nhau leo lên leo xuống mỗi ngày vài ba lần, lấy cơm nước, tắm giặt. Lại đang giữa mùa đông, đứng ở trên cao mới thấy gió lạnh lùa dữ lắm. Có bà mẹ mò lên tìm thăm con, bà cụ cứ ngẩng mặt lên gọi con mà giàn giụa nước mắt. Nhiều gió quá, gió thổi táp cả tiếng mẹ, tiếng con. Chưa kịp đánh trận nào bỗng lại có lệnh tháo gỡ cả xuống, trong vài ngày phải mang hết súng vào trong phố, đặt lên những nóc nhà như nóc Học viện Thủy lợi, Hội trường Ba Đình, nhà băng, Nhà hát Lớn, nóc ngôi nhà dân trong Hàng Buồm cũng thấy có một khẩu. Nghe nói đây là lệnh của Bác, Người gọi đồng chí chỉ huy lên và bảo, “làm sao phải thế, cho các cháu xuống”.
Ở bên đường Cổ Ngư, mé hồ Tây cũng thấy có đặt một trận địa nổi. Hàng mấy trăm chiếc thùng phuy được ken xít vào nhau bằng những sợi cáp to, bên trên lát ván. Bình thường không sao, nhưng mỗi lần nổ súng cả người và pháo đều nảy lên, chao như chao võng. Đó là những khẩu 37 ly phục ở đấy để đón lõng máy bay tầm thấp. Đêm nào anh chính trị viên cũng xách đèn bão đứng trước hàng quân xác định nhiệm vụ, chúng ta ở đây là để bảo vệ các cơ quan Trung ương, bảo vệ cầu Long Biên, nhà máy điện Yên Phụ và chùa Trấn Quốc.
Trong chùa Trấn Quốc lúc đó có bếp anh nuôi, lại thêm một đơn vị công an kéo ra ở nhà chùa, phải tới một trung đội.
Vị sư trụ trì tuổi đã cao lắm, đôi mắt già nua nhuốm màu sương khói. Cụ thường ngồi tiếp chuyện tôi bên thềm nhà, trong tay là chiếc chày và một chiếc cối gỗ nho nhỏ. Hôm thì cụ giã vài lát gừng, hôm lại thấy cụ giã nắm lá tía tô, kinh giới. Một lần tôi hỏi, thưa cụ sao trong trong chùa lại có treo tấm đại tự với hai chữ Trấn Bắc. Nhà sư già gạt chiếc cối gỗ sang một bên quay vào nhà trong mang ấm chén ra thềm pha trà mời tôi cùng uống. Cụ thèm nói chuyện. Giọng cụ nghe thều thào lúc xa, lúc gần, nhiều lúc đang nói cụ bỗng dừng lại nghĩ vẩn vơ đâu đâu, tôi đoán rằng những lúc đó, cụ đã quên bẵng là có tôi đang ngồi hầu chuyện.
Đấy là lần vua Minh Mạng ngự giá ra Bắc Hà, ngài có tới thăm chùa này và đã hạ thánh chỉ cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Đã có Huế là kinh đô rồi thì ngoài này cái gì cũng phải xuống cấp. Cũng như khi Gia Long lên ngôi thì Thăng Long được gọi là Hà Nội. Vùng đất có cái thế rồng chầu hổ phục nằm giữa trời giữa đất, vùng đất giữa cái thế rồng bay bỗng chốc chỉ còn là một cái tên nôm na đất trong sông. Cho nên Bà Huyện Thanh Quan mới có thơ: “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo, thành cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Anh có tưởng tượng nổi khi bóng chiều phủ xuống bờ thành ngoài cửa Tây, cửa Bắc kia nó khiến ta nao lòng đến thế nào không. Năm Tây lấy thành Hà Nội lần đầu, hình như là năm 1873, cụ Nguyễn Tri Phương bị trúng đạn ở bụng trong lúc đốc quân kháng cự, vào cuối trận đánh thấy thế ta đã núng lắm rồi, cụ bèn gọi người con trai dìu cụ lên bờ thành để nhìn thành một lần nữa.
Cụ là tướng giữ thành, phải chết ở trên thành. Tây lấy được thành nhưng tự liệu thấy không giữ nổi, chưa sống yên được bèn rút ra ngoài, phải mười năm sau đó là Giáp Tý 1884 chúng mới quay lại lấy thành lần thứ hai. Lần này thì ở hẳn, thiết lập chính quyền thực dân. Với dân mình đó là quãng mười năm mang rất nhiều tâm sự. Quan giữ thành là cụ Hoàng Diệu. Lúc mất thành vào buổi chiều, cụ một mình vào võ miếu thắp hương khấn vái nhận lỗi trước tổ tiên rồi tuẫn tiết bằng một dải lụa bạch. Trước hai cụ ít lâu, Hà Nội còn có một quan Tổng đốc nhân cách cũng lớn lắm. Đó là cụ Trần Bích San.
Cái chết của cụ có lẽ chỉ có con cháu trong nhà mới rõ thực hư. Rất nhiều năm sau người ta vẫn đồn thầm rằng cụ đã nuốt đầy giấy bản mà chết. Năm ấy cụ ba mươi bảy tuổi, là một trong sáu người được vua Tự Đức cắt cử làm đại diện Nam Triều qua Pháp thương thuyết nhưng thực chất là để cắt ba tỉnh miền Đông Nam bộ cho họ. Biết vậy cụ Trần bèn chọn cái chết cho mình. Cụ Phan Thanh Giản là trưởng đoàn thì không thoái thác được, sau đó về nhà nhục không chịu nổi cũng uống thuốc độc mà mất. Cụ nghè Trần Bích San đỗ Tam Nguyên năm hai mươi nhăm tuổi, được giữ lại trong triều làm quan luôn.
Tuổi trẻ tài cao về sau dễ gặp sương giá nghiêm trọng. Lúc nghe tin con trai đỗ đầu cả ba kỳ thi, thân sinh của cụ là cụ Nghè Trần Doãn Đạt đã ôm mặt khóc rồi làm một bài thơ gửi vào Huế dặn con trai. Thơ có câu: “Hữu thức vô nan nan thức đáo. Vô danh bất hoãn hoãn danh phù”. Làm một người có hiểu biết không khó, khó là thành một người hiểu biết thấu đáo. Vô danh không hèn, hèn là những kẻ mang danh hão, hư danh. Các cụ đều đã giữ trọn danh tiết, để lại tiếng thơm muôn đời. Phải gánh vác việc nước vào lúc nước suy là cầm chắc gặp nhiều nông nỗi cay cực, cay cực không sao thổ lộ được cùng ai.
Tùy bút của Đỗ Chu
(Còn nữa)
Theo: ANTD
|