|
Người Việt thường đặt tên con theo năm sinh con giáp (Tý, Sửu, Dần, Mão...). Vừa dễ nhớ, vừa dễ gọi, vừa giản dị bình dân và đôi khi cũng dựa, cũng mong con mình theo được đặc tính ưu việt của con vật cầm tinh. Mạnh mẽ thì tên Hổ, v.v... Trong lịch sử, những người nổi tiếng mang tên Hổ, năm Dần xin kể bốn người:
· Lê Như Hổ: thời Lê quê làng Tiên Thu, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Tuổi nhỏ nhà nghèo không có điều kiện đi học, phải ở rể nhà vợ ở làng Thiện Phiến. Lúc đầu nhà vợ cho ông ăn mỗi bữa một nồi năm cơm do đó ông lười làm nhác học. Biết ý nhà vợ cho ông ăn nhiều hơn, ông mới chăm làm chăm học thêm. Người trong nhà xem rẻ ông nói: “Nếu có sức khoẻ hơn người thì mấy mẫu ruộng đó, có giỏi thì trổ tài xem?”. Nghe lời thách đố, sáng mai sau khi ăn uống no nê Như Hổ vác dao ra ruộng phát một thôi sạch cỏ mấy sào ruộng. Cha mẹ vợ ra thăm ruộng mới thầm khen.
Các làng mở hội đô vật mùa Xuân Như Hổ không thua ai.
30 tuổi Lê Như Hổ đi thi đậu Tiến sĩ năm Quảng Hòa nhà Mạc, sau làm tới chức Thượng thư, được phong thiếu bảo Lữ quận công, thọ 72 tuổi (thời ấy tuổi thọ người trong nước bình quân mới hơn 40 tuổi). Ông nổi tiếng văn hãy chữ tốt, sức khoẻ vô địch.
· Phạm Đình Hổ (1768-1839): Người làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Tác giả những áng văn xuôi tầm cỡ. Thời trẻ ông không xuất chính mà ở ẩn. Là người học rộng tài cao, chuyên nghiên cứu cổ sử, cổ tích Việt Nam. Tương truyền chính là Chiêu Hổ, thường có thơ văn xướng họa với nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Năm 1821 vua Minh Mạng vời ông ra làm Hành tẩu viện Hàn Lâm, được ít lâu sau ông từ chức. Năm 1826 vua Minh Mạng lại triệu ông ra làm quan Thừa chỉ ở viện hàn Lâm và làm Quốc Tử Giám Tế tửu. Năm sau ông lại xin về nhà. tác phẩm của ông để lại gồm 20 quyển. Hai tác phẩm văn xuôi chữ Hán được các nhà văn học sử nhắc đến nhiều là Vũ Trung tùy bút và Tang Thương Ngẫu Lục.
· Nguyễn Huy Hổ: sinh năm 1783, người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, là con Nguyễn Huy Tự, tác giả truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự nổi tiếng tài giỏi không kém La Sơn Phu Tử - Nguyễn Thiếp), mẹ là con gái con quan tham tụng Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du). Nguyễn Huy Hổ sinh ra trong một gia đình nội, ngoại đều dòng khoa bảng, vọng tộc, lớn lên là thần đồng hiếm thấy nhưng gặp thời thế điên đảo. Vừa 7 tuổi mẹ chết, gia sản bị bọn kiêu binh cướp bóc, tang thương. Sau khi nhà Lê suy vong tuy hay chữ nhưng Nguyễn Huy Hổ không theo đường khoa bảng ra làm quan mà âm thầm ở ẩn trong khó khăn. Về đường tình duyên bất hạnh cũng chẳng buông tha ông. Người con gái với mối tình đầu da diết sau là vợ ông, sống với ông chẳng được bao lâu cũng qua đời, để lại trong ông một mối sầu không dứt. Ông mất năm 1841, để lại cho đời áng văn Mai đình mộng ký bất hủ. Hiện nay ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhà mộ và nhà thờ Nguyễn Huy Hổ được người đến viếng ngưỡng tài năng.
· Bùi Cầm Hổ: người làng Độ Lưu, huyện Minh Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (nguyên tổ tiên ông ở huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương). Tuổi nhỏ nhà nghèo được học rất ít, phải theo việc chăn trâu bò, đơm cá. Thấy cuộc sống cơ cực ông phẫn chí, bỏ đàn trâu bò, trẩy kinh đi tìm cơ hội tiến thân. Đến Thăng Long được sung Hiệu Sinh. Hàng ngày đến lớp ông thường ghé qua nha môn xem quan xử án, thấy có một vụ án làm xôn xao dư luận: Nhà nọ có chồng xa nhà lâu ngày mới về, người vợ ra chợ mua lươn nấu cháo cho chồng ăn. Ăn xong cháo lươn, chồng chết. Sự việc đến tai quan, người vợ nọ bị bắt đến quan xử. Nhưng nhiều năm xử mà chưa tìm ra manh mối.
Thấy vậy, trước đông người ông buột miệng: Giá tôi được làm quan án, tôi xử xong vụ ấy lâu rồi. Lời nói của ông đến tai quan, quan cho gọi ông đến quan trường xử án.
Bùi Cầm Hổ sai lính của quan ra chợ mua nhiều lươn về, đổ lươn ra sân xử kiện, cho lươn bò tự do, rồi chọn một con làm thịt, nấu cháo cho một con chó ăn, chó chết. Trước quan án và đông người xem xử án, Bùi Cầm Hổ nói: Kinh nghiệm dân gian vùng tôi cho hay, lươn bao giờ cũng bò chúi đầu xuống, chỉ loài mình vàng đốm đen bao giờ cũng bò ngóc đầu lên, hai mắt trừng trừng trông dữ tợn. Đó chính là loài rắn độc (gọi là hoàng xà) ai không biết ăn phải loài này là chết. Người vợ nọ mua phải loài rắn độc này nấu cháo cho chồng ăn nên phải vạ vào thân. Quan nghe hiểu ý gật, gật đầu, nhưng một lần nữa cho lính ra chợ mua nhiều lươn, đổ ra sân, chọn một con làm thịt, nấu cháo cho cùng lúc hai con chó ăn, đều bị chết, quan mới làm án tha bổng cho phạm nhân và loan báo rộng rãi trong dân chúng biết kinh nghiệm phát hiện ra loài rắn độc, rất dễ nhầm lẫn với loài lươn.
Bùi Cầm Hổ về sau làm quan trải qua ba triều: Lê Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông được thăng chức Ngự Sử. Ông hai lần vâng mệnh đi xứ nhà Minh. Ông còn có công đắp đập trên núi Hồng Lĩnh, dẫn nước khe chảy về xã Độ Liêu. Sau khi ông mất, dân làng nhớ ơn, lập đền thờ dưới chân núi Bạch Tỵ và được sắc phong Thượng đẳng thần.
D . K
|