Trang chủ Thông tin tòa soạn Liên hệ tòa soạn
Thứ năm, 9/9/2010 | 11:11:21 PM
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
...
xem tiep
Tin tức & Sự kiện
Trang Văn
Nghiên cứu-Phê bình-Lý luận
Trang Thơ
Đời sống văn học
Chân dung và Đối thoại
Ý kiến Nhà văn
Nhà văn và Cuộc sống
Văn học nước ngoài
Chuyện nghề
Sáng tác Trẻ
Sách mới
Hà Nội 1000 năm
Trực tuyến 24/24
Tản văn thế sự
Thông tin & Tư liệu
Sắc hương cuộc sống
Trong các ngành nghệ thuật
Nhịp cầu văn chương
Dặm dài đất nước
Mừng thọ Ðại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi
Năm nay, mùa thu này Ðại tướng ở tuổi 100 (tuổi xưa nay rất hiếm):
...

» xem tiếp

12g55 hôm nay, GS Ngô Bảo Châu chính thức đoạt giải toán học Fields

Cách mạng tháng Tám

Hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”

Lễ giao nhận hiện vật bảo tàng văn học Việt Nam

Văn học đến với du lịch Việt Nam

TRANG CHỦ / Sắc hương cuộc sống
Làng Trình
QUANG KHẢI ( 3/9/2010 11:29:24 AM )

Làng Trình quê tôi không phải là một làng Việt cổ, cũng chẳng phải vùng đất mới và bây giờ đã nằm cách xa biển hàng chục cây số. Vậy mà hơn một nghìn năm về trước, thị xã Thái Bình (bây giờ đã lên thành phố) còn là cửa bể, gọi là Ký Bá hải khẩu. 850 năm sau đó đến đời vua Minh Mệnh, Doanh điền sứ trấn Sơn Nam hạ Nguyễn Công Trứ tập hợp dân ấp khai hoang vật thổ lập ra hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn từ hai vùng đất sa bồi khi biển ngày một lùi xa... thì làng Trình Phố đã là một quần cư có diện mạo thôn ổ thuần nông, lưng giáp với con đê ngăn mặn của vùng đất mới.

Gia phả các dòng họ trong làng đều kể lại rằng: Vào năm Bính Ngọ (đời Hồng Đức thứ 17, 1480) vua Lê Thánh Tông sai Trấn lộ tướng quân Lê Đình Ngạn (tức Chu Ngạn) ra trấn giữ cửa bể Đông, đóng đồn biên phòng tại Kỳ Bá. Trong một chuyến tuần du trên con thuyền gỗ giữa bốn bề trời nước: Trên trời thì le le, mòng két, cò vạc gặp thuyền rẽ nước ào ào bay náo loạn, chao chát trên đầu... dưới mặt nước mênh mang đỏ lợ, đặc quánh phù sa từng mảng lăn, lác, sú vẹt rập rờn xanh, thấp thoáng vài ba ánh lửa thuyền chài le lói... Vốn gốc gác dân vùng biển Gian Thuỷ, Thanh Hoá, tướng quân Chu Ngạn đã nhìn ra vùng đất hứa có thể di dân lập ấp mở mang việc trồng trọt, chài lưới. Ông bèn vào Kinh tâu với vua xin được đứng ra chiêu dân lập ấp. Được chỉ dụ, ông trở về Thanh Hóa quê ông chiêu tập các dòng họ mà người đứng đầu là các quan võ từng đánh Nam dẹp Bắc vừa mới hồi hưu nhưng đều còn tráng kiện và hăng hái lắm, cùng chung khát vọng khai phá miền đất mới tạo lập cho con cháu sau này cuộc sống ấm no, thịnh vượng, được "mở mày, mở mặt". Cùng một lúc với các cuộc di dân lẻ tẻ, khi ồ ạt qua sông Hồng từ đất Thanh - Nghệ ra, từ miền Thượng xuống. Mảnh đất "trơ gan cùng tuế nguyệt" đã có chủ nhân vốn nghề cày cuốc, chài lưới, kiêm bút nghiên và các nghề phụ trồng thuốc lào, úp men rượu, làm bún, bánh ngon nổi tiếng. Các dòng họ Chu "lồi", Chu "con", Trần, Ngô, Đỗ, Phạm, Bùi... chung lưng đấu cật, từ đời đầu đến đời kế tiếp kết duyên nhau sinh con đẻ cái... cùng nhau vật đất dựng nhà bắt đầu từ cồn đất Gò Cời, đào giếng Cời lập nên xóm, làng và đã xây dựng làng xã có nền nếp văn hiến từ đó.

Chính nhờ có cái giếng Cời mà từ thời ấy làng Trình đã mở phiên chợ Giếng, mỗi năm chỉ họp vào sáng mồng một Tết. Đến thời bọn "nhóc" chúng tôi vẫn cứ lăng xăng náo nức từ lúc giao thừa, chờ đến sáng mồng một Tết được tiền mừng tuổi, mới bảnh mắt đã tót ra ngõ phóng thẳng xuống chợ Giếng. Đầu trẻ con tóc lởm chởm như bờm còn dính đầy những mảnh vụn xác pháo đỏ thắm vừa nổ đì đẹt, đì đùng ran lên khắp các con ngõ trong, ngõ ngoài, ngay cả trước sân nhà mình. Có tiền, tay giữ chặt lấy túi tha hồ sà vào các sạp hàng mua pháo tép, pháo xiết tóe hoa cà hoa cải, rồi ông phỗng, con giống, quả chuông nhạc ngựa bằng đất nung lắc kêu "long cong, long cong", rồi tò he nặn ông Quan công mặt đỏ tía, tay cầm đại đao, con gà trống xanh đỏ tím vàng, thổi kêu te te te.

Mặt mày hớn ha hớn hở, tay chân khua khoắng như múa, cố ý khoe bộ quần áo mới cứng, vui đáo để.

Mẹ tôi bán hàng xén dậy sớm nhất nhà, chải đầu vấn khăn nhung đen nhánh, ăn mặc tươm tất, miệng nhai trầu đỏ tươi bỏm bẻm. Bà bảo: "Cả năm không bằng mồng Một" việc làm cơm, bày cỗ cúng sáng mồng Một đã có các chị tôi lo, cha tôi cũng khăn xếp, áo bông đoạn thắp hương khấn trước bàn thờ, rồi ra từ đường họ cúng lễ đầu năm.

Thoáng nhìn thấy mẹ tôi ngồi bên sạp hàng dưới gốc đa cạnh bờ giếng đang xúm đông xúm đỏ cả trẻ con người lớn là tôi lảng liền ra chỗ khác, kéo tay rủ mấy thằng bạn ra bãi cỏ xem vật, đánh đu...

Gần cạnh Giếng Cời là gò Hến có cây thị cao lêu đêu, dưới gốc một cái miếu con hương khói nghi ngút. Không hiểu từ đời nào mà đống vỏ ngao, sò, ốc, hến đã bạc phếch vỡ rạn tấp thành gò, cao to bằng mấy cái đống rơm, đống rạ, chứng tỏ nơi đây xưa kia từng là biển. Đến cây thị cũng đã vào bậc "lão làng" mùa nào cũng lấp ló trên cao những quả thị tròn trĩnh vàng ươm, treo lơ lửng, thơm nức mũi. Ở cạnh từ đường họ tôi cũng có một cây thị "trạc tuổi", một dạo còn có quán nước của bà lão tóc bạc phơ bày chè xanh, kẹo vừng, kẹo lạc trên cái chõng tre, cái bị cói treo tòng teng. Bọn trẻ con đi học về lại hát nghêu ngao, chọc ghẹo: "Thị ơi, thị rụng bị bà, bà đỡ, bà ngửi chứ bà không ăn". lão lại réo lên chửi yêu: "Cha tổ bố chúng mày"...

Ở đầu làng tôi xưa kia còn có cây muỗm cao nhất trong vùng, người làng xa quê lâu ngày về đến An Bồi đã nhìn thấy mà nhận ra làng mình. Cái cây lực lưỡng cao lừng lững, vươn lên chót vót tận tầng mây xoè tán lá xanh đậm, sum suê, bề thế. Gọi là cây muỗm, người gọi cây xoài. Người quả quyết: Do ông Bùi Viện đem từ kinh đô Huế hoặc Sài Gòn lục tỉnh mang về trồng, người cãi: Chả phải... nhưng đều nhất trí rằng thì là không phải chim chóc tha hạt về, vì quả nó to lắm, họa có đại bàng mới mang nổi, nhưng "rõ" rồi, phải là một người con rất có tâm với quê hương, làng nước. ông Trần Đình Đoàn sắp vào tuổi "bát tuần", một nhà giáo về hưu vào Nam sinh sống, từng dày công sưu tầm mọi lai lịch, ngõ ngách của làng xã mình nhớ lại: Lúc tôi lên 10 thì cây muỗm cổ thụ còn sung sức lắm. Cành lá xanh tốt rậm rạp, thân cây khoảng ba người ôm, do không hợp thổ ngơi nên hàng năm cây muỗm dù có ra hoa, chỉ đậu được một vài quả. Quả chín nom như cái thoi vàng treo lơ lửng, chim chóc tranh nhau ăn. Không người nào nghĩ đến chuyện trèo hái vì đây là của làng. Bọn trẻ chúng tôi chỉ mỏi mắt nhìn lên thèm thuồng, chảy nước miếng...

Ông Đoàn kể tiếp: Thế rồi quân Pháp tràn về, dân làng ta bỏ đi tản cư để lại vườn không nhà trống, du kích thì bám làng thỉnh thoảng nổ súng đì đoàng, đạn bay chíu chíu, đêm đêm đại bác, moóc - chì từ đồn Đông Hướng lại rít ngang đầu. Thân cây muỗm bị nhiều vệt đạn nham nhở, bầm dập, có cả vết lưỡi lê đâm, chắc bởi bọn lính lê dương đang tức tối vì không bắt được gà "nhét túi", không "vồ" được đàn bà, con gái trong làng. Rồi kháng chiến thành công, cây muỗm quá già cỗi tàn tạ bị chặt hạ, cưa xẻ thành từng mảnh đóng bàn ghế Bình dân học vụ.

Cây muỗm là tiêu điểm của làng, là sức vóc, linh hồn của làng Trình quê tôi đã vắng bóng từ độ ấy, để lại một khoảng trống chơ vơ trong tâm tưởng mỗi người.

Dưới gốc cây muỗm x­a kia còn có ngôi đình Trúc bề thế, trang nghiêm, u tịch còn gọi là đình Lớn thờ thần hoàng làng. Nay không còn cả phế tích. Nhớ ngôi đình Lớn lại phải nhắc đến chuyện cây cột buồm con đặt ở sân đình cao 27 mét, đường kính gần 1 mét, chiến lợi phẩm đánh chiếm giặc Tàu Ô, ông Bùi Viện mang về "cúng" làng để dựng cột cờ mỗi khi tế, lễ.

Ông Cử làng Trình Bùi Viện còn gọi là quan Tham biện - cùng Ngô Quang Bích sinh cùng thời là hai danh nhân tầm cỡ quốc gia thời cận đại có di tích xếp hạng ở xã An Ninh, huyện Tiền Hải, Thái Bình ngày nay. Từ lũy tre làng, ông vào kinh đô lập nên sự nghiệp được "vua biết mặt, chúa biết tên", hai lần một mình tìm đường vượt đại dương sang tận Hoa Kỳ cuối triều Tự Đức, một xứ sở quá xa lạ và đầy bất trắc, cả hai lần đều được tổng thống Hoa Kỳ thứ 18 V.S. Grant tiếp kiến bàn việc mở mang bang giao, chấn hưng đất nước khi quân Pháp sắp bắn đại bác vào thành Hà Nội. Việc không thành, ông trở về có được một tầm nhìn mới, sức nghĩ mới hướng ra đại dương. Là người góp công đầu mở cảng Hải Phòng từ thôn Ninh Hải đầy bùn lầy và hải tặc, sau chuyến công du Hoa Kỳ "không tiền khoáng hậu" trở về, ông ráo riết thực thi công việc mở mang thương trường trên biển, vừa khai sinh hải quân thường trực (Tuần dương quân) vừa trực tiếp là thủy sư đô đốc (chánh quân đốc nha tuần tải), vô hiệu hoá và thu phục một bộ phận lớn giặc Tàu Ô (ở thế kỷ 19, tàn quân nhà Minh trốn chạy triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc) ở ngoài biển, đảo thành lũ cướp biển trên những con tàu lớn, sơn đen (Tàu Ô) từng quấy phá cướp bóc dọc miền duyên hải nước ta bấy giờ) thành một lực lượng bảo vệ việc thông thương trên các cửa sông, cửa bể, giao lưu buôn bán giữa hai miền và mở cửa ra quốc tế.

Lại nói về cây cột buồm đánh chiếm của giặc Tàu Ô dựng thành cột cờ ở sân đình Lớn, lúc đầu toàn cánh trai tráng xúm vào hò nhau người kéo người đẩy cả nửa ngày trời không nhúc nhích nổi. Ông Bùi Viện khăn nhiễu quấn đầu, râu ba chỏm, người quắc thước hiên ngang trong bộ lễ phục đĩnh đạc bước ra "hô thần chú" mấy tiếng và dùng "mẹo thuật" gì bà con chả biết mà tài thế, cây cột cao to và nặng chịch bướng bỉnh, chỉ cần vài người theo hiệu lệnh chỉ huy, tự dưng cây cột dựng đứng lên cao chót vót... Vào thời đổi mới hội nhập người ta mới thừa nhận ở ông một con người biết nhập thế, chọn đường tiếp cận được với thời đại văn minh, công nghiệp - một trong những nhà cách tân đất nước cùng thời với Nguyễn Trường Tộ. Hồi ấy các vị đi sứ phương Tây về, Vua quan triều Nguyễn còn trố mắt căn vặn: Vì sao đèn lại đốt ngược (?)

Nhìn sang cây đa Bến Chài lại tưởng vọng đến một danh nhân khác là Ngô Quang Bích, mà ông còn để bức chân dung truyền thần đúng như một ông Phật sống, tay cầm sách tay cầm đốc gươm, đôi mắt sáng quắc, chòm râu dài nhân từ của một bậc trượng phu lão thực.

Năm Tự Đức thứ hai, Nguyễn Quang Bích (tức Ngô Quang Bích) thi đậu Hoàng Giáp, đỗ đạt cao nhất làng được triều đình cho phép xây dựng văn chỉ. Thành Hưng Hoá thất thủ (theo lệnh vua Tự Đức) ông lui về tự lập căn cứ, chiêu mộ nghĩa quân, xây dựng lực lượng, tích trữ lương thực, tính kế chống xâm lược Pháp lâu dài. Khi vua Hàm Nghi hạ chiếu cần vương ông được trao trọng trách thống lĩnh toàn lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ. Nghĩa quân của ông chiến đấu ròng rã 6 năm trời dọc lưu vực sông Đà, sông Thao thời ấy, quân thù đã nhiều phen khiếp đảm. Khi ông qua đời giữa vùng lam sơn chướng khí, người con trai cả Ngô Quang Đoan đã kế tục sự nghiệp cha cầm cự được vài năm nữa tại căn cứ rồi trở về nhen nhóm ngọn lửa cách mạng tại quê nhà và tham gia các phong trào yêu nước khác đầu thế kỷ. Người cha lấy bút hiệu là Ngư Phong (Gò Chài), người con bút hiệu Tương Phong (Gò Voi) hai quả gò nổi lên trước cửa nhà thờ họ Ngô có dòng sông Liên Giang. Hai cha con ông còn để lại cho đời sau hai tập thơ dày dặn, nặng lòng với nước, với dân với giọng thơ hào sảng đầy cảm khái.

Bây giờ làng Trình quê tôi lấy cây đa bến chài làm biểu tượng. Bởi từ thuở "bể dâu" ngàn năm về trước, làng Trình đến cả tỉnh Thái Bình vẫn còn là rốn biển. Đến khi biển rút dần, rút dần, phù sa bãi bờ đang bồi đắp dở dang thì nơi đây là nơi dân chài chiều chiều tấp về bến, neo đậu thuyền, phơi chài lưới nổi lửa nấu bữa cơm chiều dưới chân sóng vỗ ì oặp giữa trời nước mang mang. Và rồi không biết tự bao giờ, khu đất cao ấy có tên là Bến Chài. Khi ông Ngô Quang Bích còn nhỏ chiều chiều thường rủ bạn cùng trang lứa ra đây thả diều, tập võ. Để có bóng mát vui chơi, tập luyện, ông đã tự tay trồng cây đa. Cây đa trên Gò Chài bên dòng sông, sát cánh đồng cứ lớn vổng lên xanh mướt, tua tủa cành nhánh, rễ đâm thẳng xuống thành những trụ chống vững chãi, mấy năm sau đã thành cây cao bóng cả. Sau này không còn thuyền chài, người ta gọi là Gò Chài, cây đa Gò Chài.

Gò Chài bây giờ còn lại cây đa đã cỗi bên cạnh dòng sông nhỏ, cây cầu xi măng be bé giữa đồng lúa xanh phẳng lặng, ngay cạnh đường dây điện hạ thế giăng giăng từ đầu xóm...

Lúc chiều tĩnh lặng, nắng nhạt, gió hây hẩy lại vẳng nghe tiếng chuông chùa Ré ngân vào thinh không và tiếng diều sáo bi bô hiếm hoi còn sót lại lừ mạn Phương Công, Bắc Trạch...

 

Q . K

[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới
  Lấy chữ tín, ý thức cộng đồng và tính hiệu quả để phát triển(9/3/2010)
  Nhà thơ và nhà vua(13/4/2010)
  Phát hiện cây dứa 'lạ' cao 15 mét, nở hoa xanh, vàng, tím (13/5/2010)
Các bài đã đăng
  Tết người Tày(9/3/2010)
  Làng tiến sĩ phương Nam(9/3/2010)
  Xuân trong thơ Trạng Trình(9/3/2010)
  Ngã ba xà(18/8/2009)
  Kỳ thú Cát Bà (11/8/2009)
  Về ba hang động mới phát hiện ở huyện Minh Hóa (Quảng Bình):(7/7/2009)
  Bão cát ở DuBai(19/6/2009)
   Động ngườm ngao(12/6/2009)
  Armenia, mảnh đất của những huyền thoại...(20/5/2009)
Tìm kiếm
Trao đổi
Văn học và nhà trường : Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Văn
Bàn thêm về sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều qua đoạn trích Trao Duyên
" TỰA" - MỘT BÀI THƠ CÓ TẦM
Di sản văn học
Một câu lạc bộ thơ Việt 700 năm trước
Vũ Đình Long - người khởi động và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa
sách "Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh"
 TẠP CHÍ NHÀ VĂN
 THỐNG KÊ

 
 
 
 
© TẠP CHÍ NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 65 Nguyễn Du - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9423111 * Fax: (84-43) 9429387
Email: tapchinhavan@fpt.vn
Tổng biên tập: Nguyễn Trác
Phó tổng biên tập: Vũ Đảm
Giấy phép số 108/GP-BC, ngày 19-03-2008.
Tạp chí Nhà văn Việt nam giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign