|
Tôi không nhớ thật rõ là đã quen biết, đã được trò chuyện với nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn từ bao giờ. Chỉ nhớ là cách đây hơn mười năm, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hội thảo Văn học đồng bằng sông Cửu Long ở Đồng Tháp, số người từ Hà Nội vào cũng không nhiều. Giờ nghỉ, anh em ra sân tản bộ, tay đôi tay tư, thật ồn ào vui vẻ.
Nhà thơ Bế Kiến Quốc chỉ cho tôi một người tầm thước đang đứng nhìn ra bờ sông có nhiều tàu thuyền đi lại, cạnh ông có mấy chậu hoa đỏ rực đang rung rung vẫy vẫy theo gió từ sông đưa lên, anh hỏi: "Biết ông này không?".
Tôi nhận ra, ông này hôm qua mặc cái áo trắng còn rất mới, ngồi trên xe với vẻ bồn chồn háo hức. Người ấy là nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn.
Hôm sau chúng tôi được anh em văn nghệ Đồng Tháp cho đi tham quan mấy chợ nổi tiếng trên sông, rồi tấp thuyền vào một cù lao sum xuê cây lá, chĩu chịt xoài, cam, nhãn... Mọi người lại ồn ào hỏi và hỏi, rồi xem cảnh nhìn vườn ngắm hoa và ăn trái cây. Nguyễn Hữu Nhàn ý tứ cất miếng cam đang ăn dở vào góc đĩa, rút cuốn sổ tay trong túi dết ra viết viết, đoạn, lại quay sang hỏi chủ nhà một câu gì đó.
Đã quá trưa, mọi người xuống bến, tiếng máy nổ giòn, thuyền từ từ rời bờ rồi xé nước lao đi, sóng dập dềnh, bọt trắng xoá, vùn vụt chạy ngược lại chúng tôi là những chiếc thuyền đầy khẳm dưa hấu, sầu riêng... Nguyễn Hữu Nhàn ở giữa khoang, ông ngồi gọn gàng như chỉ sợ làm chật chỗ người khác, thế nhưng thỉnh thoảng tôi thấy ông vẫn cố vươn ra mạn thuyền, ngoài kia là bờ bãi với cây cối dập dềnh, là thuyền to thuyền bé nhấp nhô dào dạt lướt trôi.
Chuyến đi ấy tôi chắc là Nguyễn Hữu Nhàn thu nhận, ghi chép được rất nhiều.
Nguyễn Hữu Nhàn viết truyện ngắn từ lâu, và nghe đâu, ông còn làm thơ? Người thế mà còn thơ nữa, biết đâu lại hay theo kiểu cách nào?
Trong kho truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn có một nhân vật là thầy giáo Long. Long là một giáo viên trẻ được điều lên dạy học - cắm bản ở một vùng xa xôi, có nhiều phong tục lạ và lạc hậu. Cùng dạy với Long có một giáo viên khác tên là Phu. Trong khi Phu vừa uể oải dạy học, vừa tìm cách "tranh thủ" ngủ với vợ người khác khi có điều kiện bởi tập tục ở đấy cho phép như thế, lại vừa ra sức làm đơn kêu ca, tố cáo Phòng Giáo dục đã "đày đoạ" mình... thì Long lo dạy học, giúp bà con chữa bệnh, lại lo tránh né cả việc có người muốn ngủ với mình vì tin cậy mình, yêu mình. Hơn thế, thầy giáo trẻ này còn say mê sưu tầm phong tục tập quán của địa phương, hỏi được đến đâu, thì ghi chép lại đến đấy, lâu lâu đóng thành gói, gửi về Hà Nội. Chẳng bao lâu sau, Long không những được dân bản và học trò yêu quý, mà tài liệu sưu tầm của anh còn được xuất bản, anh trở thành một tác giả, một nhà sưu tầm, biên soạn văn hoá dân gian...
Cái truyện ngắn này tên là Ràn rạt rừng cười thì phải. Truyện viết vui gọn, hóm hỉnh, mô tả tâm lý rất khéo. Không hiểu sao đọc truyện này, tôi lại nhớ đến hơn 30 năm trước của mình và một vài người bạn; tôi cũng cứ đinh ninh rằng nhân vật Long có lẽ chính là tác giả, rằng đây là một kiểu tự truyện. Một phần cũng là vì quan sát cái cách đi lại, trang phục, để ý cái kiểu trò chuyện của ông bây giờ, thấy gợi lên phong độ của một ông giáo lắm.
Ai đã đọc Nguyễn Hữu Nhàn, dẫu chỉ dăm bảy truyện, thì cũng đều nghĩ là trong nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn còn có một nhà sưu tập, biên khảo, nghiên cứu văn hoá dân gian.
Văn chương Tô Hoài ngay từ tuổi đôi mươi, đã giàu chất phong tục, kể nhiều cảnh quan và tập quán vùng ngoại ô Hà Nội xưa, văn của Nguyễn Hữu Nhàn hay Ngô Ngọc Bội ở trung du ngoài Bắc và Lê Văn Thảo với Trần Kim Trắc ở Tây Nam Bộ cũng gần như vậy. Đương nhiên, các nhà văn trẻ hơn, đã hiến cho bạn đọc ở ta những trang đậm sắc vùng miền theo lối riêng, mở ra trước mắt ta những giải tầng phong tục, tập quán và văn hoá khác nhau.
Bây giờ chúng ta đang nói, nghĩ, bàn nhiều về nông dân, nông thôn, nông nghiệp theo đủ góc độ và cung cách khác nhau. Tôi muốn nói: Những vấn đề về cái tam nông này Nguyễn Hữu Nhàn đã nghiền ngẫm và nói từ lâu. Chẳng hạn, ở truyện ngắn Tèo - Vĩ Đại, giữa những đoạn tả và kể về anh chàng Tèo nghèo khổ kiết xác, bỗng có dăm bảy trăm triệu đồng nhờ được đền bù đất do nhà nước mở đường, Tèo đặt lại tên cho mình là Hà Vĩ Đại, rồi xây nhà to, sắm áo quần, ăn cơm hiệu, dùng điện thoại di động... nhà văn buông ra một đoạn:
Nhiều tiền rồi, Tèo - Vĩ Đại chả phải sợ thằng nào là đúng. Dân quê ta khi quay ra chỉ nhìn thấy toàn cây lúa cây ngô, quay vào thấy ngay con gà con chó, suốt đời quẩn quanh trong luỹ tre làng, hám tiền của nhưng lại ghét kẻ giàu có, trong bụng toàn chứa ngô khoai sắn, biết gì cái khác mà không có truyền thống ghét con buôn, sống chất chưởng, lúc bảo "nhất sĩ nhì nông", lúc lại bảo "nhất nông nhì sĩ"..., đồng tiền bát gạo ở đâu thì chính kiến ở đấy, thích ra oai, hễ có tí của, tí quyền thì anh nào anh nấy vênh mặt lên coi thường thiên hạ bằng con tôm con tép ngay, vì thế Tèo - Vĩ Đại có lên mặt với đời âu cũng là đương nhiên.
Chẳng hạn, ở truyện Làng Phần, ông giáo Chung về hưu đã được tác giả cho nghĩ ra mấy câu khái quát thế này:
Ông biết rõ hạng người giầu xổi vốn thích ra oai khoe mẽ. Họ chỉ thích nói, không thích nghe. Có tiền thì họ có quyền. Họ chỉ trọng người giàu, còn họ khinh tất, người có học mà nghèo không những bị họ khinh mà họ còn ghét vì đố kỵ do thua kém về đường học hành.
Mà thôi, xin phép không trích dẫn nữa, kẻo vô tình, tôi lại làm bạn hiểu lầm rằng viết thế, Nguyễn Hữu Nhân tuy có lý cớ từ thực tế quan sát, chiêm nghiệm và từ cái lôgíc của câu chuyện với sự phát triển của tính cách nhân vật mà ông dựng lên, thì bạn lại cho rằng ông Nhàn nhìn nông dân méo mó u ám quá (!).
Không, đọc kĩ truyện của Nguyễn Hữu Nhàn mà xem, ta sẽ thấy là tác giả không hề có cái nhìn một chiều, với cái lối viết rặt có phê phán thế đâu, mặc dù, chúng ta đều hiểu: Khi anh vạch cái xấu của làng quê tôi, cũng là vì anh thương quý tôi, anh muốn xóm làng tôi sống tốt hơn đấy chứ !
Phải, Nguyễn Hữu Nhàn là thế.
Lại nhớ lần ấy, nhà văn đưa tôi và anh chị em học viên của Trung tâm Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du đi thực tế sáng tác ở mấy xã miền núi thuộc huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ. Xe rầm rì leo dốc, lên cao lên cao dần, trời đã về chiều, bảng lảng mấy làn sương khói lưng núi, rồi qua một cua dốc nữa, tự nhiên thấy nắng chói chang, trời xanh ngăn ngắt, mây xếp trắng ngần, mọi người à lên sảng khoái, riêng nhà văn vẫn trầm ngâm, tôi hỏi:
- Cảnh bừng sáng, mà sao hai bên đường vẫn hoang vắng thế anh? Nguyễn Hữu Nhàn nói với tôi mà như độc thoại:
- Con trai thì xuống núi làm thợ xây thợ xẻ, anh nào có tí vốn thì kiếm cái xe Tàu chạy khách, còn con gái thì buồn lắm ông ơi..., ừ, buồn là vì phải đi làm cave, đi lau nhà giặt đồ thuê cả rồi, làm gì cũng được, miễn là có tiền, bỏ lại quê nhà toàn người già với mấy người tập tễnh thôi.
Ai đó ngồi bên cạnh thắc thỏm:
- Trai thanh gái lịch lại đi hết như hồi chiến tranh à ?
Chừng như sợ tôi chưa hiểu hay hiểu nhầm, anh nhỏ nhẹ:
- Bà con người Mường, người Dao trên này nhiều người không biết làm cave là làm gì đâu, thấy con cháu đi lâu lâu mới về, mang cho ít tiền và gói bánh gói mì là thấy được rồi.
Buồn, đúng là âm điệu buồn, và như có gì chán ngán, trách móc hờn giận gì ai nữa, tôi đọc thấy tâm trạng của nhà văn vẫn như vậy qua gương mặt thẫn thờ, qua dáng ngồi như hơi chùng xuống của ông.
Và tôi kịp nhận ra: Mấy năm gần đây Nguyễn Hữu Nhàn thường có giọng rủ rỉ, đủ nghe; ông cũng có vui cười sảng khoái đôi khi, nhưng tiếng cười cũng không vang động như dạo trước nữa thì phải. Cái sự chuyển hóa và đối lập này ở ông hình như đã được hiện ra từ tên các tập sách, chẳng hạn: Hồi mới viết là Chuyện làng Gành (1971), một cái tên bình bình, rõ là có dấu hiệu thanh thản, điềm nhiên; viết được vài ba chục năm, thì là Truyện kể trong làng (1994), rồi rộ lên, là những tập, nghe tên đã thấy náo nức giòn giã muốn đọc xem sao: Tết ở Bản Dèo (2006), Gió thổi qua rừng (2007), Rừng cười (2008), Vui như hội (2009)... Nghĩa là khi không, hay chưa viết, thì ông để ý tìm hiểu xung quanh, và tự lắng nghe tâm sự, tâm trạng của chính mình, nên mới có cái lối trò chuyện vậy, để rồi khi viết, thì ông dồn vào đấy tất cả ái ố hỉ nộ của mình.
Trong truyện ngắn Lão Thật, có tiếng cười của con gái lão và vợ lão, khi thấy lão đã bớt "ăn hiếp" vợ con hơn, và còn có cả cái kết chuyện thế này:
Bà Thật nhìn theo chồng, chép miệng nghĩ: Cái Thà nói phải, thuyết phục loại người như bố nó không dễ gì bằng cho họ một câu nịnh kèm theo bát gạo đồng tiền; kể cả thâm thù họ cũng quên ngay!
Rồi theo cùng tháng năm, không chỉ nội dung tư tưởng trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn sâu sắc hơn, mà giọng điệu của truyện, mạch kể của truyện cũng có phần chậm rãi lắng đọng hơn thì phải. Lúc này nhịp truyện ngắn của ông nhẩn nha. Nhân vật của ông dựng lên khéo léo qua từng trang từng trang, ông có tài mô tả bộ dạng bên ngoài, từ cái sống mũi, cái hõm mắt, đến cái áo, cái quần, rồi bước đi, đến cái kiểu ngồi... của nhân vật, mà người đọc nhận ra tâm tính bên trong của nhân vật. Tôi cứ nghĩ là trong số đủ loại nhân vật với các độ tuổi và hoàn cảnh cụ thể thật khác nhau ở vùng nông thôn rộng lớn kia, Nguyễn Hữu Nhàn dựng những nhân vật là ông già - chừng dăm bảy chục tuổi, thì đạt hơn cả, sống động hơn cả.
Nhân vật người cha bực bõ với vợ chồng con trai mà bỏ nhà đi sang làng bên làm Thành hoàng làng ấy (Truyện Thành hoàng sống), và Bủ Son quyền uy mà "quen sống khổ rồi, sống sung sướng không chịu nổi" (Truyện Mường Na) rồi lão Hếnh thầy mo (Truyện Ràn rạt rừng cười), hay lão Hẻn tán gia bại sản vì đề đóm và nghiện rượu (Truyện Chuyện tình Sức - Son), và cả lão Thật và bà vợ của lão (Truyện Lão Thật)... là những ví dụ cho ý kiến này.
Khi viết - dựng lại loại nhân vật cùng trang lứa mà mình thật đã quen thuộc từ tấm bé, từ vai người kể chuyện và là một nhà sưu tầm, nghiên cứu về tập tục, tâm lý nông dân, Nguyễn Hữu Nhàn đã cảnh báo với người đọc về một thói xấu của một hạng người:
Chỉ vì mong mình hơn người nên họ thường lấy sự kém cỏi rủi ro thua thiệt của người khác làm niềm vui an ủi cho mình. Đối với những người nông nổi thường chỉ có thể xoa dịu tính ghen ghét của mình bằng những lời cạnh khoé và vẻ mặt khó đăm đăm trước những ai hơn mình. Còn những kẻ mánh lới, thâm hiểm thì sự ghen tức đố kị được hun đúc thành những mưu mô hại người một cách độc ác.
Lâu nay chúng ta hay bàn nhiều đến các biện pháp giáo dục tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị... để đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng, thế là đúng. Đọc truyện ngắn Nguyễn Hữu Nhàn, chúng ta thấm thía hơn một lưu ý của nhà văn: Cần chú ý hơn đến tâm lý con người!
Nhân vật già cả trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn nếu như có gieo vào cảm nghĩ của người đọc một sự bực bõ dẫu có cảm thông và xót xa, một sự phê phán hơn là kính trọng dẫu ta vẫn cho rằng: "Đời cũ là thế thôi!", thì loại nhân vật thanh niên trong truyện của ông thường sáng đẹp hơn. Họ sống chân thật và gắng gỏi vươn lên, họ biết đúng biết sai mà ăn nói vẫn phải chăng, ứng xử đúng mực...
Anh chàng Sức xấu trai và chỉ có tay không mà dám xin Ủy ban xã cho thầu cả quả núi Bạn, tại đây Sức đào núi làm hồ, trồng rừng và cây ăn quả, lập trang trại, thì quả là người có chí khí. Khi lấy được vợ, mà vẫn ngủ riêng, vì biết vợ quá đẹp, sợ "phí người ta đi" tội nghiệp. Rồi sự chăm chỉ của anh, tình cảm chân thành của anh, và cả thành công của anh nữa, đã khiến vợ chồng Sức - Son (tên người vợ), vượt qua tất cả, họ đã có một cuộc sống đầm ấm (Truyện Vợ chồng Sức - Son). Thiên truyện đã như một bài ca ca ngợi tình yêu và lao động,có ý vị của truyền thuyết dân gian vừa mang sắc mầu hiện đại.
Những thanh thiếu niên trong gia đình vợ chồng Hò - Hẹn (Truyện Vợ chồng Hò - Hẹn) lại biết bảo nhau cần mẫn siêng năng vì một lý do cũng oái ăm: Từ bé, họ thấy bố mẹ hay chửi nhau, họ tự dặn mình: Bố mẹ thế, nhà lại nghèo, nếu không lo học, nếu không nết na, thì xấu hổ lắm, chơi với ai được? Thế rồi chị bảo em, em gái bảo em trai... dần dần, họ trở thành gương sáng cho cả làng bởi ai cũng giỏi giang, có bằng cấp, được đi làm có lương bổng đàng hoàng.
Chính lớp nhân vật này xuất hiện trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn đã khiến cho âm điệu buồn thương của văn xuôi ông bớt đi, sự u ám có thật trong cuộc đời và trong truyện của ông cũng như một tấm màn đen bị xé toang ra. Tôi có cảm giác là khi kể về các nhân vật này, nhà văn đã không giấu được sự hào hứng, hả hê khi ông dựng họ lên như là những con người mới dám sống và biết hành động đúng nên đã thành đạt.
Có ai đó đã nói: Một trong những nơi thể hiện vốn sống và tay nghề của một cây văn xuôi là ở các đoạn đối thoại. Phải, xây dựng đối thoại là tài năng hoặc là sự non nớt của nhà văn. Đến với truyện ngắn, đôi khi tôi - do không có nhiều thì giờ, nên đã tìm đọc các đối thoại trước, rồi mới đọc tiếp hay không. Cái thói quen này ở tôi (và một số bạn đọc khác) đã được Nguyễn Hữu Nhàn làm cho thỏa mãn. Đối thoại trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn thường ngắn, gọn, rõ. Và qua đó, tính nết của nhân vật, tâm lý tức thời của nhân vật và cả ý hướng của nhân vật cứ hiện rõ dần, bạn đọc không nhọc công cũng hiểu được. Đó là những xen đối thoại làm hiện rõ lên trước mắt ta hình ảnh cụ thể của tính cách nông dân thời nay: vừa tuệch toạc giản đơn, vừa tinh quái sâu sắc, vừa ngay thẳng bốp chát, lại vừa mát mẻ xa xôi mà gợi nhức nhối nghĩ suy... họ không hề ngây ngô như một số trang viết của mấy tác giả khác.
Ấy là tôi nghĩ thế, chứ biết đâu, lại có người bảo: Tưởng thế nào chứ cái lối viết lối dựng truyện thế thì cũng là cũ mèm rồi, bây giờ văn xuôi phải biến hóa theo đủ dạng kiểu cho tân tiến, cho "đuổi kịp" trào lưu văn xuôi thế giới đương đại đi chứ !
Tôi biết là Nguyễn Hữu Nhàn không phải là không muốn hiện đại hóa mình. Và quả thực, nhà văn đã có thể nghiệm đấy: Ông đã thay đổi vai người trần thuật, ông đã để cho đối thoại và độc thoại xen nhau...
Nhưng tôi muốn lưu ý rằng: Cách dựng truyện là gì, nếu không phải là phương pháp, là kĩ thuật viết truyện? Ai kia viết về đời sống đô thị với những thanh niên U70, U80, U90 phóng xe máy đời mới vèo vèo, có tiền mặc hàng hiệu, ăn đặc sản, làm việc qua máy điện thoại, máy vi tính... thì cứ tìm chọn phương pháp, kĩ thuật viết cho hợp, còn với bác Nhàn, bác đã chuyên viết về nông thôn, nông nghiệp, nông dân cả đời nay rồi, cứ để bác viết thế, dựng thế, là sở đắc sở trường đấy. Phương pháp và kĩ nghệ phải bắt nguồn từ yêu cầu của tư tưởng chủ đề, từ nội dung là vậy.
Về phương diện kết cấu, dựng truyện này, tôi chỉ lấy làm tiếc là Nguyễn Hữu Nhàn vào truyện thì tự nhiên, rất "ăn" người đọc, dẫn dắt truyện thì thoải mái và khéo léo, mà sao cái kết chuyện của ông thì đôi khi cứ hơi gò theo lối "có hậu". Có phải cái hồn cốt dân gian nhân bản đã dẫn dụ ông, xui khiến ông ra thế? Ôi chao ôi là sức mạnh của văn hoá tập tục cổ truyền!
Cách đây mươi năm, trong một chuyên luận chừng gần 50 trang 13cm x 19cm, tôi có tôn nhà văn Kim Lân là nhà văn của làng quê nước Việt, nhà thơ Võ Văn Trực là nhà thơ viết văn yêu quê mình bằng một tình yêu rớm máu (như nhà văn Sơn Tùng đã nói), nay cho phép tôi nghĩ: Nếu chúng ta ít thì giờ, mà có thú đọc sách, muốn qua trang sách mà biết ở vùng Đất Tổ dân mình đang sống và đang vượt lên ra sao, họ hào hứng và quyết tâm, lại cũng đang băn khoăn và cả nhầm lẫn thế nào... xin hãy đọc truyện của Nguyễn Hữu Nhàn.
Thử so sánh một tí, chúng ta có thể thấy là: Hình ảnh người nông dân do Kim Lân dựng lên (như ông Hai ở truyện ngắn Làng), là đẹp cái vẻ đẹp chân mộc, ngay thẳng, thì hình ảnh người nông dân của Nguyễn Hữu Nhàn và nhiều nhà văn ở thời kỳ đổi mới này quả là phức tạp và đa diện hơn, đến mức, họ là đại diện của truyền thống thủy chung, lam làm, cầu tiến... từ muôn đời, lại cũng là cái túi đựng những sự bê tha nhếch nhác của thị thành.
Nông thôn trong truyện của Nguyễn Hữu Nhàn đang có sự chuyển hóa, phân hóa thật mãnh liệt, tạo ra bao cái mới trong cảnh vẻ ngổn ngang của bộ mặt xóm làng và sự thể lòng người. Nếu ta dừng lại một chút với truyện Núi ở phía sau lưng, ta lại thấy có những nông dân bỏ ruộng rẫy rồi dần dần quên luôn cả tình nghĩa, chỉ lao theo dục vọng quan chức. Đọc và nghĩ cùng tác giả, ta biết là ở truyện này, phía sau những dòng kể với ít đoạn tả cái dáng vẻ con người, cái ô tô anh ta đi, nhà văn đã bộc lộ cả một nỗi buồn đau xa xót, và căm phẫn, khinh bỉ. Cái tư tưởng và thái độ ấy của nhà văn cũng chính là ý nghĩ và thái độ của người nông dân bình thường hiện nay, và như thế, ông đã là người nói hộ họ những hờn giận, uất ức đối với một loại người từ làng quê đi làm cán bộ mà mất gốc quê, mất lương thiện, dửng dưng trước nỗi oan khổ của bà con. Thiết nghĩ, với truyện Núi ở sau lưng, Nguyễn Hữu Nhàn đã muốn cảnh báo: Chính loại cán bộ này đang làm mất lòng dân, làm giảm uy tín của Đảng.
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn không ngại viết cả cái xấu, cái lạc hậu, với giọng châm biếm, mỉa mai; cũng như ông đã hồ hởi khi viết về cái mới đang lên với cả niềm tin yêu hy vọng bằng một tay nghề vững, từ cái nhìn, cái tâm sự và vốn liếng của một nhà nghiên cứu thâm trầm, giàu trách nhiệm.
Tôi thấy trong văn xuôi Nguyễn Hữu Nhàn có ẩn chứa một tiếng cười mang phong vị cổ truyền. Xin để một dịp khác sẽ bàn kĩ thêm về ý này nữa.
N . A
|