Trang chủ Thông tin tòa soạn Liên hệ tòa soạn
Thứ năm, 9/9/2010 | 11:44:38 PM
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
...
xem tiep
Tin tức & Sự kiện
Trang Văn
Nghiên cứu-Phê bình-Lý luận
Trang Thơ
Đời sống văn học
Chân dung và Đối thoại
Ý kiến Nhà văn
Nhà văn và Cuộc sống
Văn học nước ngoài
Chuyện nghề
Sáng tác Trẻ
Sách mới
Hà Nội 1000 năm
Trực tuyến 24/24
Tản văn thế sự
Thông tin & Tư liệu
Sắc hương cuộc sống
Trong các ngành nghệ thuật
Nhịp cầu văn chương
Dặm dài đất nước
Mừng thọ Ðại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi
Năm nay, mùa thu này Ðại tướng ở tuổi 100 (tuổi xưa nay rất hiếm):
...

» xem tiếp

12g55 hôm nay, GS Ngô Bảo Châu chính thức đoạt giải toán học Fields

Cách mạng tháng Tám

Hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”

Lễ giao nhận hiện vật bảo tàng văn học Việt Nam

Văn học đến với du lịch Việt Nam

TRANG CHỦ / Trao đổi
Dịch là "sinh" chứ không phải là "diệt"
HOÀI ANH ( 2/23/2010 1:49:06 PM )

Được tin nhà thơ Hoài Anh, tác giả câu thơ quen thuộc “Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy. Ra phố mua một bao thuốc lá, chín năm sau anh mới trở về nhà” vừa về thăm lại Hà Nội, tạp chí Nhà văn có cuộc phỏng vấn nhà thơ, dịch giả Hoài Anh:

Phóng viên: Thưa nhà thơ, được biết trong 34 năm xa Hà Nội, sống ở thành phố Hồ Chí Minh, anh vẫn âm thầm dịch những tập thơ Hán - Việt của ông cha ta, thơ Trung Quốc, thơ Pháp, thơ Anh - Ireland - Mỹ, thơ của các nhà thơ được giải Nobel văn học. Ông có thể cho bạn đọc Tạp chí Nhà văn được biết khái quát về những công trình đó được không?

Hoài Anh: Trước sau tôi vẫn tin rằng làm những việc gì cũng có cơ duyên của nó. Cơ duyên dịch tập thơ Hán - Việt của ông cha ta là do tôi được nhà xuất bản Đồng Nai nhờ dịch tập thơ Gia định tam gia (Trịnh Hoài Đức - Ngô Nhân Tĩnh - Lê Quang Định). Tôi quá nể nhà xuất bản vì đã từng in cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của tôi Rồng đá chuyển mình (viết về Nguyễn Tri Phương giữ thành Hà Nội) nên đem hết sức ra thực hiện bản dịch, may mà được Ban biên tập nhà xuất bản đánh giá tốt, in nhiều lần để làm quà tặng các đoàn đại biểu từ Trung ương và các tỉnh bạn về thăm Đồng Nai, coi như một món quà thổ sản bên cạnh gạo, trái cây... điều đó khiến tôi lấy làm sung sướng vì đó là một dịp để tôn vinh thơ khi sản phẩm tinh thần được coi ngang với sản phẩm vật chất. Đồng chí Phó Chủ tịch tỉnh Huỳnh Văn Tới và đồng chí Giám đốc NXB Bùi Quang Huy cùng tham gia hiệu đính và giới thiệu cuốn sách. Tỉnh cấp kinh phí in theo mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Thừa thế xông lên, tôi làm tiếp tập thơ Hán - Việt từ đời Trần đến nửa đầu thế kỷ XX gồm các nhà thơ ba miền Bắc - Trung - Nam. Khi được biết năm 2010 sẽ tổ chức đại lễ mừng 1000 năm Thăng Long Hà Nội, tôi tách riêng ra những bài thơ viết về Thăng Long - Hà Nội làm một tập. Trước hết, tôi chọn hơn 10 bài thơ gửi Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn Việt Nam), đã được đăng trong số vừa rồi. Phấn khởi, tôi mang bản thảo tập thơ nộp cho nhà xuất bản Hội Nhà văn để Ban biên tập tùy nghi sử dụng.

Về thơ Trung Quốc, năm 2003 tôi đã cho xuất bản cuốn Một trăm bài thơ Đường. Sau đó, tôi lại dịch thêm những bài thơ từ cổ đại đến hiện đại của Trung Quốc. Về phần thơ hiện đại, Tạp chí Văn học nước ngoài đã giới thiệu những chùm thơ của các tác giả đương đại Trung Quốc như: Bắc Đảo, Cố Thành, Thư Đình. Về thơ Pháp, tôi đang dịch tiếp để bổ sung vào cuốn Bảy thế kỷ thơ tình Pháp đã xuất bản năm 2003 cho dày dặn, phong phú hơn.

Về thơ Anh - Ireland - Mỹ tôi đã dịch thành tập thơ song ngữ giúp bạn đọc đối chiếu, để nếu có bài nào tôi dịch chưa đạt thì các bạn khác sẵn có nguyên văn để dịch lại. Xin nói là việc kiếm tư liệu để dịch hết sức khó khăn (sách mua ở Mỹ rất đắt, lại quá dày, nặng, không mấy ai chịu mang về cho). Có những cuốn tôi phải mua lại ở hiệu sách cũ của những người từ Mỹ đến Sài Gòn mang theo đọc, sau đó quẳng lại ở sân bay, xe taxi, khách sạn... người ta nhặt được mang bán lại cho hiệu sách cũ. Qua nhiều năm cóp nhặt, tôi đã chọn được 350 bài thơ để dịch, nhà thơ đầu tiên ở thế kỷ 14, nhà thơ cuối tập ở thế kỷ 20 (sinh khoảng 1938 bằng tuổi tôi). Điều đáng mừng là những nhà thơ quan trọng nhất của Anh - Ireland - Mỹ đều đủ mặt. Tạp chí Văn học nước ngoài đã giới thiệu chùm thơ Shelley trong tập này. Nếu cần phải nói thêm thì tôi chỉ xin lưu ý bạn đọc trong các nhà thơ mới 1930 - 1945 chỉ độc nhất có nhà thơ Huy Thông là chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thơ Anh, không có Byron, Shelley thì không có Huy Thông. Nếu thơ Pháp nói chung nhiều tính chất bác học và hào hoa, thì thơ Anh - Ireland - Mỹ nói chung giản dị, thiết thực nhưng không kém phần sâu sắc. Tôi hy vọng những bản dịch này chí ít cũng góp phần nêu gương cho các nhà thơ trẻ Việt Nam học tập cách làm thơ và hiểu một cách “giáo cụ trực quan” thế nào là thơ hiện đại, hậu hiện đại, hay thơ ý tượng (Imagism), thơ Tân hình thức, vì có tư liệu để tham khảo, không bị ngộ nhận vì những thông tin sai lạc trên báo, mạng của những người không chuyên môn về thơ Âu - Mỹ.

Còn về tập thơ của các nhà thơ đoạt giải Nobel đã xong, nhưng chưa kịp in thì cuốn sách của Trung tâm văn hóa Đông Tây đã ra mắt trước. mặc dầu cuốn sách của tôi có khác là phần tiểu sử và đánh giá tác phẩm của các tác giả đầy đủ hơn, nhưng đành lùi lại để một thời gian nữa sẽ ra sau khi bổ sung thêm nguồn tư liệu mới và dịch kỹ các bài thơ. Tôi đã trích gửi một vài bài cho Tạp chí Văn học nước ngoài.

P.V: Theo ý anh thì thơ có thể dịch được không?

H.A: Tôi có đọc bài Châm ngôn văn học dịch của một tác giả nước ngoài đăng trên tuần báo Văn Nghệ trong đó có một câu nói: “Thơ không thể dịch được”. Vì đây là cuộc phỏng vấn trực tiếp bằng miệng, nên tôi không có văn bản bài báo, tác giả và số báo để dẫn chứng. Tôi còn đọc một bài trên tạp chí Văn học nước ngoài bàn về việc dịch thơ, nhưng cũng quên tên tác giả và số báo. Tiện đây, tôi xin giở sổ tay ra đọc lại những câu nói về việc dịch thơ đăng trên sách báo, mà tôi đã ghi lại.

G. Pompidou, nhà phê bình Pháp nổi tiếng, nhận định: “Gần như không có người nào, kể cả thi sĩ, dịch thuật thành công thơ của các thi sĩ nước ngoài. Điều đó đúng với cả các thi sĩ nổi tiếng! Những bản dịch thơ Longfellow của Baudelaire thật nhạt nhẽo, vô vị. Nerval dịch Leonore rồi Faust quá tầm thường, rồi Valéry dịch Bucoliques...

“Điều đó có thể giải thích dễ dàng. Trong thi ca có hàng ngàn điều không thể dịch và chắc chắn một người dịch thơ nước ngoài dù giỏi ngôn ngữ của tác giả đến đâu cũng không nhận ra được để dịch”.

Trong Nhà văn hiện đại, nhận xét về cuốn Danh văn Âu - Mỹ, một dịch phẩm thơ Tây của Nguyễn Giang, Vũ Ngọc Phan đã viết: “Có một điều mà mọi người phải công nhận là dịch thơ Tàu ra văn xuôi chỉ là ghi lại đại ý bài thơ, còn bao nhiêu cái hay của sự dùng chữ trong thơ hầu như mất hẳn, khó mà giữ cho được ma lực của những chữ và cái nhạc điệu của những câu mà tác giả đã cố gò để nên câu tuyệt diệu. Vậy dịch chữ Tây mà dịch vận văn ra tản văn, chỉ còn có thể giữ cho đúng nghĩa, cho gọn ý, cho sáng mà thôi.

Muốn dịch thơ Tây sang thơ ta cũng vậy, bao nhiêu những cái hay nhất của bài thơ đều không thể diễn dịch được  mà lại còn vướng ở những vần thơ ta mà mình gieo nữa. Cho nên dịch thơ Tây ra thơ ta lại càng khó lắm”, không làm gì thấy được những chữ sẵn như khi dịch thơ chữ Hán ra quốc văn.

Đinh Gia Trinh bổ sung: “Đến thơ tượng trưng thì dịch nó mới thực là công dã tràng. Vì cái ý nghĩa bài thơ không quan trọng gì mấy mà quan trọng nhất là cái hình thể của nó; nhạc điệu, hiệu lực của một âm, một vần, vốn là những cái khó truyền cảm vô cùng”.

James Mac Gwan, người Anh dịch thơ Baudelaire viết: “Một bản dịch tốt phải đúng và có chất thơ... Baudelaire đã không lựa tôi để làm người dịch thơ ông. Nhưng tôi còn có một bổn phận với những người Anh đọc thơ dịch của tôi, họ đòi tôi bằng mọi cố gắng làm họ thích chí như được đọc những bài thơ sáng tác bằng tiếng Anh”. Frederick Nims khẳng định: “Sự bội phản lớn nhất là đưa ra một bài thơ tồi bằng tiếng Anh và bảo nó là bản dịch của một bài thơ hay tiếng nước ngoài”.

P.V: Ý kiến ông về chuyện này?

H.A: Trong mấy năm qua tôi đã đăng ba bài trên Tạp chí Văn học nước ngoài bàn về chuyện dịch thơ, nhắc lại ở đây e choán giấy. Nếu bạn nào thực sự quan tâm đến vấn đề này thì xin tra cứu bài tôi trên Tạp chí Văn học nước ngoài.

P.V: Ông đã nghiên cứu thơ Anh - Mỹ, xin ông cho biết quan niệm về dịch thơ của người Anh - Mỹ như thế nào?

H.A: Điều đó rất khó nói. Phổ biến thì người ta cho rằng thơ không thể dịch được nhưng tôi không cực đoan như thế mà cho rằng có thể dịch thơ qua “correspondances” (tương giao) của nó, chứ đừng dịch theo lối giải nghĩa từng chữ. William Buttler Yeats 1865-1939) giải thưởng Nobel 1923 nói: “Những gì có thể giải thích thì không còn là thi ca” (What can explain is not poetry). Trước đây dịch giả Trung Quốc dịch tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là dịch theo lối giải nghĩa. Như câu “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”, được dịch là “những đoàn xe chở vũ khí, lương thực lên Việt Bắc, ánh sáng của những đoàn xe ấy bật sáng lên khiến người ta liên tưởng đến tương lai của đất nước Việt Nam”, mới đúng ngữ pháp của chữ bạch thoại Trung Quốc và khiến người đọc Trung Quốc hiểu được ý tác giả. Trong tập thơ của 8 nhà thơ Việt Nam dịch ra tiếng Anh, bài Mẹ và quả của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm được dịch thành “Vườn quả của mẹ tôi”, cho hợp với ngữ pháp Anh, đòi hỏi một câu phải có chủ từ, bổ từ, liên từ, ở đây, vườn quả là chủ từ, mẹ tôi là bổ từ, của là liên từ, (như of của Anh, de, du của Pháp, đích của chữ bạch thoại Trung Quốc).

Trong khi đó, Việt ngữ nhiều khi không có chủ từ, không phân biệt giữa động từ với tính từ dùng như động từ và phó từ (hay trạng từ - adverb, trong chữ bạch thoại Trung Quốc thì thêm vào chữ địa một cách - để chỉ đó là phó từ. Động từ không được chia ra các thì: quá khứ, quá khứ phân từ (trong những động từ bất quy tắc) hiện tại, tương lai (đây là nói ngữ pháp Anh chứ ngữ pháp Pháp còn rắc rối, phức tạp hơn nhiều) Đại từ chỉ gọi theo ba ngôi: thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, biến đổi tùy theo giống đực hay giống cái, số ít hay số nhiều. (trong chữ bạch thoại Trung Quốc, số nhiều thì thêm chữ môn). Không có những đại từ gọi theo quan hệ gia tộc như mẹ, bác; chữ Mother trong Anh ngữ, chữ Mère trong Pháp ngữ có thể hiểu là Đức mẹ Maria, tương ứng với chữ Sister trong Anh ngữ, chữ Soeur trong Pháp ngữ chỉ dì phước, chú, bác cũng gọi là Uncle, nhưng có khi dùng với nghĩa đùa cợt như Uncle Sam là chú Sam chỉ người Mỹ. Cô, dì cùng gọi là Aunt, chị em gái cùng gọi là Sister còn Em chỉ người yêu thì gọi là You, điều này chắc sẽ khiến cho nhiều bài thơ tình của ta dịch sang Anh ngữ giảm thi vị nhiều (chẳng hạn câu “rối rít lòng trong một nỗi em em” của Lưu Quang Vũ).

Do đó, chữ Mẹ và quả không thể dịch thẳng sang Anh ngữ, nhưng dịch thành Vườn quả của mẹ tôi thì tuy đúng ngữ pháp nhưng lại sai với dụng ý của tác giả, vì MẹQuả ở đây là hai biểu tượng (symbole) được khai triển trong suốt tiến trình toàn bài thơ.

So sánh với tiếng Anh thì tiếng Pháp khó dịch hơn vì tiếng Pháp vốn trang nhã, được coi là ngôn ngữ văn học trong khi tiếng Anh còn bị coi là ngôn ngữ thương mại. Do đó, dịch tiếng Pháp không thể chỉ dịch theo mặt chữ mà phải phù hợp với syntaxe (cú pháp học) và tournure (cách diễn tả) của Pháp văn. Cuốn Nhật ký trong tù trước được dịch là Journal en prison, đến khi luật sư Phan Nhuận ở Pháp dịch lại mới đổi là Carnet de prison, nhưng cũng có những câu ông Phan Nhuận không dịch sát, mà chỉ dịch thoát lấy ý. Như câu Hương hoa bay thấu vào trong ngục; kể với tù nhân nỗi bất bình, Phan Nhuận phải đổi dịch thành: ”hương hoa bay ra ngoài ngục, kể nỗi bất công với toàn thế giới”.

Còn chơi chữ đồng âm dị nghĩa như trong thơ Chế Lan Viên thì không tài nào dịch sang ngôn ngữ các nước khác được.

Như câu: “Xưa phù du mà nay đã phù sa khi dịch tập thơ Ánh sáng và phù sa sang chữ Trung Quốc, dịch giả đã dịch nhan đề tập thơ là Dương quang hòa thổ nhưỡng. Chữ bạch thoại Trung Quốc còn có chữ phù du (con vờ), nhưng chữ phù sa thì không có vì đó là chữ người Việt tự ghép từ chữ đơn Hán - Việt; trong Hán ngữ mới khái niệm phù sa được gọi là thổ nhưỡng. Do đó, câu thơ dịch không còn hiệu quả của biện pháp chơi chữ: phù du - phù sa. Nói chung, mọi cách chơi chữ trong văn Hán - Việt đều không dịch ra ngoại ngữ được; khi giáo sư Balaban dịch thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Anh, mặc dù đã có hai chuyên gia chữ Nôm người Việt ở Pháp làm cố vấn, vẫn phải dịch câu một đèo một đèo lại một đèo thành một núi lại một khe để ám chỉ “cái kia” (“Còn thú vui kia sao chẳng vẽ” - Hồ Xuân Hương).

Đại thể thì như vậy, nhưng không vì thế mà ở Anh người ta không dịch thơ, vì nếu cầu toàn thì như Vottaire đã nói: “Mong muốn cái tốt nhất lắm khi làm hỏng cái tốt hiện có” (cười).

P.V: Xin ông kể qua cho nghe về lịch sử dịch thơ ở Anh để từ đó chúng ta có thể rút kinh nghiệm?

H.A: Theo Lịch sử văn học Anh, Bede (thế kỷ VIII) dịch các bài hát bằng tiếng bản ngữ Saxon của Caedmon (thế kỷ thứ VII) sang tiếng Latinh và chú thêm. “Đây chỉ mang một ý nghĩa khái quát, chứ không phải là những gì mà Caedmon đã thực sự hát trong giấc mơ của ông, vì thơ dù tài giỏi đến đâu, cũng không thể dịch sang một ngôn ngữ khác cho tận tường mà không làm mất đi vẻ đẹp và giá trị của nó” (This the general sense, but not the actual works that Caedmon song in his dream; far verse, however masterly, cannot be translated works for work from one language into another without losing much of their beauty and dignity).

Tiếng Anh cổ cũng có những cách chơi chữ không dịch được, như bryd, vừa có nghĩa là chim (bird) vừa có nghĩa là con gái (girl), chẳng khác gì chữ đèo, trong thơ Hồ Xuân Hương.

Các bài thơ đầu tiên của Geoffrey Chaucer (1342-1400) đều dựa trên những hình ảnh mơ màng của người Pháp: The Book of the Duchess lấy của Guillaume de Machaut; Eustache Deschamps gọi Chaucer là nhà dịch thuật vĩ đại (le grand tramslateur). Như vậy chẳng khác gì người ta gọi Nguyễn Du là nhà dịch thuật vĩ đại” cuốn sách của Thanh Tâm Tài nhân. Chaucer và Nguyễn Du đều có sáng tạo vĩ đại trong khi mượn một cốt truyện ngoại quốc đưa vào văn chương bản ngữ Anh hay Việt. Sở dĩ phải nói điều này vì nhiều bản dịch Truyện Kiều sang chữ Trung Quốc đã chép lại nguyên si những câu thơ Đường, như “Phương thảo liên thiên bích, Lê chi sổ điểm hoa” hay “Kê minh mao điếm nguyệt, Nhân tích bản kiều sương” trong Hán ngữ cổ vào bản dịch, mà đáng lẽ phải dịch sang văn bạch thoại để thấy được điểm sáng tạo của Nguyễn Du trong vận dụng ngôn ngữ Việt.

Bản dịch tác phẩm của Virgil là thành tựu chính của bá tước Surrey (1517-1547), không vì bản dịch ấy đã khai thác thể thơ không vần vào thời Phục hưng, cũng như vào thời kỳ trung cổ, dịch thuật không khác biệt hoàn toàn với sáng tác, (điều này giúp ta hiểu thêm giá trị của các bản dịch Chinh phụ ngâm khúcTỳ bà hành ra tiếng Việt), mặc dù ngành ngữ văn thời kỳ Phục hưng đã sản sinh những bài viết và ý niệm nghiêm khắc về tính xác thực. Khi tiếng Latinh ngôn ngữ cổ của Âu châu đã phai mờ dần, thì những độc giả có học lại càng trở nên thiết tha với nền quốc ngữ phôi thai. Khi đó xuất hiện một nhu cầu, cũng như sự tín nhiệm đối với công việc dịch thuật và phóng tác.

Việc dịch thuật tiếng Latinh đã nuôi dưỡng tâm hồn người Anh cũng giống việc dịch thuật tiếng Hy Lạp đối với người La Mã.

Sự thành công của Sylvae (1685) một tuyển tập các tác phẩm được nhà thơ Anh John Dryden(1031-1700) tuyển dịch từ Horace, Theocritus và Virgil, đã là nguồn khích lệ để ông dịch toàn bộ tác phẩm của Virgil. Trong bản dịch Aeneid, Dryden đã quyết định” truy tìm sự ưu trội và bỏ rơi tính khúc chiết” (pursue the exellence and forsake the brevity) bởi vì tiếng Anh không cô đọng bằng tiếng La tinh.

Lời giới thiệu tác phẩm Sylvae cho thấy quan điểm của ông “dịch giả là người làm cho tác giả xuất hiện trong một dáng vẻ càng quyến rũ càng tốt, miễn là phải duy trì được cá tính của tác giả và làm sao để ông ta phải là ông ta. Dịch thuật là một loại vẽ truyền thần, khiến cho mọi người đều phải thừa nhận có sự giống nhau như đúc giữa hai tác phẩm, một đẹp và một xấu. Trước tiên phải làm cho bức vẽ lại có đường nét trung thực, dung mạo tương đồng, tỷ lệ chính xác, màu sắc khoan hòa, sau đó mang lại nét duyên dáng, cho tất cả những yếu tố này bằng dáng điệu, bằng độ đậm nhạt, và quan trọng nhất là bằng thần sắc, cái tạo nên sinh khí cho toàn bộ tác phẩm”. Nhà thơ Anh Alexander Pope (1688-1744) dịch thơ của Homer sau đó viết các bài tiểu luận, luân lý, thư ca theo phong cách Horace, rồi Dunciad.

Trong Cuộc đời Pope, nhà văn Anh Samuel Johuson (1709-1784) chú ý nhiều đến bản dịch Homer của Pope và nhận xét rằng Iliad là “bản dịch thơ xuất sắc nhất mà con người từng được đọc” và là “một thành tựu mà không một thời đại hoặc quốc gia nào có thể sánh bằng”.

P.V: Xin ông cho biết đôi điều về quan niệm thơ của Anh và các nước phương Tây.

H.A: Nhà triết học Anh Thomas Carlyle (1795-1881) viết: “Tư duy mang tính nhạc (pensée musicale) có khả năng thâm nhập vào trung tâm của sự vật, phát hiện ra cái giai điệu nằm giấu  mình trong đó, là vì dưới bề sâu của mọi sự vật đều là du dương, tất nhiên đều được diễn tả bằng tiếng hát”.

Chính Carlyle cũng đã dịch tác phẩm của Goethe sang tiếng Anh. Nhà thơ Anh Alfred Tennyson (1809-1892) xưng tụng Virgil là người nắm giữ tiết điệu trang trọng nhất được tạo ra từ đôi môi của con người” (Wielder of the stateliest measure moulded by the lips of man).

Nhà thơ Scotland Alastair viết: Thơ là “những đầu thừa đuôi thẹo gợi những điều xa xôi”. Nhà thơ Anh Wystan Hugh Auden (1907-1973) mô tả một bài thơ như là “cỗ máy ngôn từ kỳ lạ” (Verbal contraption) và “bổn phận của nhà thơ là nói lên sự thật”. Trong bài thơ Tưởng niệm W.B. Yeats, ông làm cho con người vĩ đại này “tan biến cùng với những người đã chết. Nhưng lời nói và ngôn từ, vẫn còn mãi: “Cái chết của một nhà thơ luôn cách biệt với những  bài thơ của người, cũng như cái chết của cha mẹ cách biệt với các con” (The death of the poet was kept from his poems, as the death of a parent is kept from children). Phần hai của bài thơ bắt đầu bằng lời trách cứ: “Người ngây thơ lắm giống như chúng ta vậy”. (You were silly, like us), vì “Thi ca không khiến điều gì xảy ra cả” (Poetry makes nothing happen) nhưng “tiếng nói tự do của Người vẫn thúc giục nỗi niềm hoan ái trong tâm hồn chúng ta” (With your unconstraining voice still persuade us to rejoice), và “hãy để suối nguồn tưới mát những vùng hoang mạc của con tim” (in the deserts of the heart / Let the healing fountain start).

Nhà thơ Anh Archibald Mac Leish (1892-1982) trong bài Nghệ thuật thơ viết:

Một bài thơ nên cảm nhận được mà lại im lặng

Giống một trái cây hình cầu

 

Câm

Giống như ngón tay cái mân mê huân chương cũ

 

Lặng thinh giống như bục cửa sổ đá

Bị tay áo mài mòn mà mọc rêu xanh

 

Một bài thơ nên không nói thành lời

Giống như đường bay của một con chim

 

Một bài thơ nên bất động trong thời gian

Giống như mặt trăng ló lên

 

Vuột ra, giống như mặt trăng gỡ bỏ

Bóng tối, bám chặt trên cây từng cành

 

Vuột ra, giống như mặt trăng sau lá cây mùa đông

Trong lòng hết ký ức này đến ký ức khác

 

Một bài thơ nên bất động trong thời gian

Giống mặt trăng ló lên.

 

Một bài thơ nên tương đương với

Phi thực ([1])

 

Một cánh cửa rỗng hay một chiếc lá phong

Mượn để biểu đạt toàn bộ lịch sử của đau buồn

 

Cỏ dựa vào nhau và hai cây đèn trên biển

Mượn để biểu đạt tình yêu

 

Một bài thơ không nên có ý định

Nhưng có mặt trên đời

Nhà thơ nhà triết học Mỹ Ralph Waldo Emerson (1803-1889) giả định trong bản chất thực thể trong suốt của ngôn từ giúp chúng ta hướng tới được thế giới gọi là “tinh thần”. Ông đưa ra ba nguyên tắc đáng chú ý:

Chữ là dấu hiệu của sự việc bản chất.

Sự việc bản chất đặc biệt  là biểu tượng của hiện thực tinh thần đặc biệt.

Bản chất là biểu tượng của tinh thần.

Nhà thơ Mỹ Wallace Stevens (1879-1955) trong bài Về thơ hiện đại viết:

Thơ là tư duy trong quá trình hành vi của nó tìm kiếm cái thỏa mãn yêu cầu của nó. Nó không phải là luôn luôn đi tìm kiếm: Cảnh đã bày xong, nó lặp lại cái đã có trong vở.

Rồi nhà hát đổi diễn

Cái khác. Quá khứ của nó thành một thứ kỷ niệm.

Nó cần phải sống động, học biết ngôn ngữ bản địa,

Nó phải đối mặt với đàn ông của thời đại đó, gặp đàn bà của thời đại đó. Nó phải suy nghĩ về chiến tranh và tìm kiếm cái thỏa mãn yêu cầu. Nó cần phải xây dựng sân khấu mới. Nó cần phải giống một diễn viên không bao giờ thỏa mãn trên sân khấu, chầm chậm

Phát âm đài từ một cách trầm tư, trong tai

Trong tai tư duy  nhạy cảm nhất, lặp lại

Chính xác cái nó muốn nghe, một đám khán giả

Vô hình đang nghe tiếng nói đó

Không phải là nghe trò diễn, mà là đang nghe biểu lộ tình tự của bản thân, giống như

Hai người thành một thứ tình tự, giống như hai tình tự dung hợp thành một. Diễn viên là một người

Thích triết lý trừu tượng trong bóng tối khi diễn tấu nhạc cụ, khi diễn tấu dây đàn kim loại

Âm thanh phát ra sự chân thực bất ngờ, đều ngầm chứa tư duy, nó vừa không thể hạ thấp.

Vừa không thể vượt khỏi nguyện vọng của nó

Nó cần phải

Tìm được một sự thỏa mãn, có thể là

Một người đàn ông trượt băng, một người đàn bà khiêu vũ, một người đàn bà

Chải đầu. Thơ là hành vi của tư duy.

Theo Lamartine, thơ là oratio vincta, ngôn ngữ bị cản trở, đối lập với văn xuôi, oratio solute, ngôn ngữ tự do. Câu thơ bị chi phối bởi nhịp điệu, những chỗ ngắt hơi, nhưng tập trung được ý tưởng, tồn tại lâu hơn trong trí nhớ con người.

Theo Jean Suberville, văn xuôi biểu hiện cái chân (le vrai), là tiếng nói của trí tuệ; nó quan sát, diễn dịch, quy nạp, được các giác quan và trí tưởng tượng giúp đỡ dưới sự kiểm soát của lý trí. Văn xuôi được biểu diễn bằng đường thẳng.

Thơ biểu hiện cái mỹ (le beau), là tiếng nói của tình cảm và tưởng tượng; nó sáng tạo với sự giúp đỡ của trí tuệ. Bị hạn chế trong các câu thơ, nhưng được tự do theo cảm hứng, nó được biểu diễn bằng đường cong.

Gerald Manly Hopkins thì khẳng định tất cả thủ pháp của thi ca đặt trên nguyên tắc song song.

Paul Valéry gọi thơ là một “ngôn ngữ trong ngôn ngữ” nghĩa là nhà thơ không sử dụng ngôn ngữ, mà là phát huy những tính cách đặc biệt của ngôn ngữ (âm, điệu, nhịp…) và coi đó là mục đích của thi ca. Ngôn ngữ hàng ngày, văn xuôi dùng để diễn tả cho người khác hiểu (ý nghĩa), khi đã hiểu thì không còn cần ngôn ngữ nữa (ngôn ngữ biến mất hay bị quên đi). Trái lại trong thi ca, “bài thơ không chết sau khi đã sống”, nó đã được tạo nên chính để sống từ những tro tàn của nó và trở thành mãi mãi của cái mà nó vừa trở thành. Đọc thơ, người ta phải biết dừng lại ở những chữ, những tiếng để thưởng thức, hưởng thụ ngay những vẻ đặc biệt của tiếng, câu, hình ảnh. William Current Bryant nói: “Thi ca là nghệ thuật lựa chọn và sắp đặt những biểu tượng theo một cách thế có thể kích thích trí tưởng tượng mạnh mẽ và kỳ thú nhất”.

Baudelaire nói: Thơ văn gắn liền với nhạc bằng cái ngữ điệu (prosodie) vốn có gốc rễ ăn quá sâu vào tâm hồn ta đến nỗi chẳng có lý thuyết kinh điển nào biết được. Một câu nên thơ (une phrase poétique) gắn liền với nghệ thuật âm nhạc và cả với toán học”.

Saint Poul - Roux nói: “Nhà thơ là kẻ được ký thác vào tay sự hài hòa của tất cả những gì hiện hữu. Do đấy mà anh ta mang lại cho tất cả những cái đó một đời sống mới Louise Gluck nói: “Thật thú vị khi biết được đôi điều về phẩm chất ấy vì bài thơ bất kể nội dung nó nói gì, sống sót không nhờ nội dung mà nhờ giọng nói. Nói giọng là tôi muốn chỉ cái phong cách (style) của tư tưởng, cái đó không hoàn toàn giống như phong cách của lời nói: những sự ghép mượn, những điệu bộ thành quen... Chúng tôi nhờ cậy vào khái niệm giọng (voice) với tất cả những bất túc của nó; ít nhất thì nó cho ta nghĩ tới âm thanh của một hiện hữu chính cống”.

P.V: Xin ông kể cho nghe vài mẩu chuyện về kinh nghiệm dịch thơ của bản thân ông.

H.A: Bên trên tôi phải nói dài dòng về chuyện thơ khác với văn xuôi như thế nào cốt để nhắc nhở các nhà thơ lớp trẻ tỉnh táo, cân nhắc khi làm những bài thơ tự do, không vần, do không quan tâm đến các hình thái tu từ (figures de rhétorique), nên đã đánh mất chất thơ.

Nhân đây cũng nói, cái lầm lớn nhất của các nhà Thơ Mới là tưởng rằng làm thơ mới dễ hơn thơ cũ vì không phải chịu sự hạn chế của niêm luật, vần điệu như trong thơ cũ. Sự thực thơ của Pháp, Anh, Mỹ rất chú trọng đến vần, nhịp, âm tiết, trọng âm của câu thơ, áp dụng cả những biện pháp: tượng thanh, tượng hình, đối ngẫu, lặp âm, từ, như trong thơ cổ Việt Nam.

Tôi chỉ xin lấy thí dụ bài thơ Prelude của nhà thơ Mỹ sống ở Anh, Thomas Sterns Eliot (1888-1965) giải thưởng Nobel 1948, nguyên văn Anh ngữ như sau:

The Winter evening settles down

With smell of steaks in passage ways.

Six oclock.

The burnt-out ends of smoky days.

And now a gusty shower wraps

The grimy scraps

Of withered leaves about your feet

And newspapers from vacant lots;

The shower bear

On broken blinds and chimney - pots;

And at the corner of street

A lonely cab-horse steams and stamps.

And the lighting of the lamps.

Tác giả đã dùng một loạt từ tượng thanh để gợi lên âm hưởng của từng tiếng động trên đường phố như:

- Đoạn trên có hàng loạt từ mang phụ âm s như settles, smell, steaks, six, smoky, shower.

- Những từ bắt vần như ways với days, wraps với scraps.

- Đoạn giữa có những từ mang phụ âm f như feet, from.

- Những từ mang phụ âm b như beat, broken, blinds.

- Đoạn cuối có những từ mang phụ âm l như: lonely, lighting, lamps, những từ mang phụ âm s như streets, steams, stamps.

Để giữ đúng nguyên điệu của bài thơ, tôi đã dịch:

Khúc dạo

Chiều đông rủ xuống

Trên hẻm phố khét mùi thịt nướng

Sáu giờ

Những mẩu thừa của những ngày sương mù

Và bây giờ một màn mưa phả gió

Hắt vào chân tường những lá khô mục rữa

Những mảnh báo từ bãi đất hoang vu

Mưa rào đập

Trên cửa sổ hư và ống khói chơ vơ

Góc đường lưa một ngựa tải già

Giậm chân phì phà

Rồi phố lên đèn sao sa

Đoạn trên tôi đã dùng những từ có vần o, ô, ơ, u, ưa như rủ, phố, giờ, thừa, mù, mưa, gió, khô, rữa, từ, vu, hư, chơ vơ, lưa, ngựa, phố, để vừa tượng thanh vừa tượng hình.

Đoạn cuối tôi đã cố dùng những từ có vần a, ai, ưa như lưa, ngựa, tải, già, phà, sa; những chữ láy phụ âm p như phì phà; những chữ láy phụ âm s như sao sa.

Để bảo đảm hiệu quả của từ, âm, và vần, đáng lẽ viết còn lại, tôi đã dùng lưa; , tôi đã dùng ; phì phò tôi đã dùng phì phà...

Những chữ xuốngnướng; giờ, mù, vu, vơ hay già, phà, sa ở cuối từng dòng, bắt vần với nhau.

Để giữ nhạc điệu, tôi đã cố tránh dùng câu “khổ độc” mà vận dụng luật bằng trắc (niêm) để câu thơ êm tai hơn.

Không cứ thơ Anh, câu thơ Pháp cũng có những chữ láy phụ âm và trùng âm, điệp vần. Thí dụ hồi nhỏ cha tôi đặt tôi ngồi lên đùi giảng bài thơ Le lac của Lamartime cho tôi nghe, không phải là ngâm lên mà phải hát lên:

Aimons-donc, de lheure fugitive

Hâtons-nous, jouissos!

Khi dịch tôi phải dịch là:

Yêu nhau đi! Thời gian nhanh trôi!

Vội vàng lên, hưởng ngày vui!

để cố giữ nguyên điệu của bài thơ.

Đến khi tôi tự đọc được chữ Pháp, thấy bài Paris của Eluard cũng láy phụ âm, trùng âm, điệp vần, đối ngẫu, lặp âm, từ...  rất nhiều:

Paris a froid, Paris a faim,

Paris ne mange des marrons dans la rue.

Paris vêtu des vêtements du vieillard,

Paris dort tout-debout dans le métro sans air.

(Tạm dịch: Pari lạnh, Pari đói, Pari không còn ăn hạt dẻ ngoài đường. Pari mặc quần áo cũ của người già, Pari ngủ đứng trong hầm xe điện ngầm ngột ngạt).

P.V: Đã có những lần nào ông dịch thơ mà cảm thấy thành công hay thất bại?

H.A: Tôi thích thú nhất là khi dịch xong toàn bộ bài thơ Con tàu say của Rimbaud. Còn bài Đêm tháng năm của Alfred de Musset khá dài, nhưng khi dịch xong toàn bài tôi buộc phải cắt đi một đoạn kể chuyện nhà thơ và  nàng thơ của ông đi thăm các di tích lịch sử và danh thắng của nước Pháp vì đoạn đó nhiều tên riêng quá. Tôi mới hiểu vì sao người Pháp chê bản dịch truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh là “sa đà trong những niên đại và những rồng phượng”. Thiên tài như Musset mà còn không cứu nổi đoạn thơ nhiều nhân danh, địa danh và điển tích kia mà. Bởi vậy nên khi đọc bài Bức tranh gà của tôi được dịch sang tiếng Anh đăng trong tạp chí Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, tôi lo ngại trong bản dịch có nhiều tên riêng như: than cói, gỉ đồng, lá chàm, hạt dành, chất điệp… hay những câu hơi trừu tượng như Bao mùa xuân qua Để màu hồng lại, Sông núi cho xanh, nhất là những câu chơi chữ: Sống hơn gà sống (chơi chữ sống-trống)… bản dịch không chuyển tải hết ý tác giả, phải dịch thoát ý, mà vần khó làm cho người đọc nước ngoài thông cảm, vì phải là người Việt Nam mang hồn dân tộc từ ngàn xưa mới rung động được với màu sắc, hình ảnh ý tứ của bài thơ. Chẳng hạn Bức tranh gà nói chung vẽ cả gà trống, gà giò, gà con… nên phải dịch là The chickens pictures; nhưng “nhân vật” chính của bài thơ là con gà trống nên phải dịch The cock. Gáy lên! Gà ơi! mà dịch là Hey, cock, crow! âm hưởng, ý vị của câu thơ mất hết.

Nghĩ vậy nên khi tự chọn thơ mình để dịch, tôi chỉ dám chọn những bài ngắn, ít tên riêng như bài:

Buổi sáng

Buổi sáng như bàn ủi

Lấy điện từ mặt trời

Ủi phẳng đêm nhàu nát

Nếp nhăn gương mặt đời

Tôi chỉ có thể tạm dịch:

Morning

Morning as Iron

Power from the sun

Iron night rumple away

Show the face of life.

Que diêm cuối cùng

Anh buồn hút thuốc nửa đêm

Em que diêm cuối cùng tìm thấy

Đời lạnh lùng - giấu lửa chờ nhau đấy

Soi từng trang Nghệ thuật biết đường về

Vì không sao dịch nổi câu thứ tư, khi dịch tôi đành đổi thành: Lửa soi đường cho cánh mộng anh bay. Biện pháp chơi chữ buồn (vừa là buồn rầu vừa là thèm muốn), cũng không thực hiện được.

The Last Match

Being blue I smoke at midnight

You-the last match I can find

Cold life- keep fire for waiting

Fire spot helps my dream fly.

Có người nói “Traduttore traditore” (Dịch là diệt); nhưng tôi cho rằng dịch là tái sinh dưới một lớp ngôn ngữ khác.

P.V: Xin cám ơn nhà thơ về cuộc trao đổi thú vị và bổ ích này.



[1] Not true.

[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới
  Văn hóa đọc của giới trẻ - Tự phát, thiếu định hướng(22/3/2010)
  Thơ Trong cuộc sống hôm nay(15/4/2010)
  Thơ Tiền Giang(27/4/2010)
  Văn học Việt Nam hiện nay: Thiếu vắng đề tài công nhân(17/5/2010)
  Về một truyện ngắn trong nước phải “dịch” ra tiếng Việt(21/5/2010)
  Đành gửi một "người Việt" mơ hồ vắng mặt(24/6/2010)
   " TỰA" - MỘT BÀI THƠ CÓ TẦM(6/7/2010)
  Bàn thêm về sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều qua đoạn trích Trao Duyên(26/8/2010)
  Văn học và nhà trường : Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Văn(26/8/2010)
Các bài đã đăng
  Dịch thuật cần gì?(23/2/2010)
  Văn học dịch Việt Nam: Tự túc và tự phát….(13/1/2010)
  Máu, mồ hôi, và ngôn từ(23/11/2009)
  Bàn thêm về 1.575 thành ngữ - tục ngữ(11/11/2009)
  Tác phẩm dịch: Không ít cảnh ngọng nghịu, ngô nghê tiếng Việt(5/11/2009)
  Xuất khẩu tác phẩm văn học. Bài 2: Cần có chính sách khuyến khích(5/10/2009)
  Xuất khẩu tác phẩm văn học: Bài 1, Không có cái để bán?(5/10/2009)
  "Khuê tảo" đâu chỉ là văn chương(23/9/2009)
  Về đời sống văn hóa và sinh hoạt văn học trong công nhân(13/8/2009)
Tìm kiếm
Trao đổi
Văn học và nhà trường : Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Văn
Bàn thêm về sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều qua đoạn trích Trao Duyên
" TỰA" - MỘT BÀI THƠ CÓ TẦM
Di sản văn học
Một câu lạc bộ thơ Việt 700 năm trước
Vũ Đình Long - người khởi động và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa
sách "Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh"
 TẠP CHÍ NHÀ VĂN
 THỐNG KÊ

 
 
 
 
© TẠP CHÍ NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 65 Nguyễn Du - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9423111 * Fax: (84-43) 9429387
Email: tapchinhavan@fpt.vn
Tổng biên tập: Nguyễn Trác
Phó tổng biên tập: Vũ Đảm
Giấy phép số 108/GP-BC, ngày 19-03-2008.
Tạp chí Nhà văn Việt nam giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign