|
Tiếng cồng săn thú và tiếng hú phường săn rộ lên ở cánh rừng Pù Bin làm cho người bản Vãng cũng chộn rộn. Hai bản liền kề là bản Văn và bản Lác cũng náo nức không kém. Chỉ cần nghe những âm thanh động rừng ấy là ai cũng biết là cánh phường săn ấy đang truy đuổi bầy nai hoặc bầy hoẵng. Những con vật ăn cỏ non và uống nước suối này ít khi đi sống đơn lẻ mà thường kết thành bầy đàn năm ba con có khi tới chín mười con. “Của rừng chia ba của nhà chia đôi” câu thành ngữ ấy thấm đẫm vào cộng đồng làng bản dễ có đến cả ngàn năm lẻ. Nếu cuộc săn này hạ được ba con hoẵng phường săn chỉ hưởng một con. Một con sẽ đem chia phần cho cả bản. Con còn lại trở thành bữa thết đãi mọi người. Hai bản Lác, Văn lân cận cũng được mời đến chia vui với chiến công của tiếng cồng săn thú.
Ông Thẹo Run là thợ săn rừng vào loại thiện xạ nhưng đã giải nghệ ngay từ thời chớm bước vào tuổi trung niên tráng kiện. Đó là lần ông cùng phường săn lừa cho con hổ cái sa bẫy. Nó giẫy giụa điên cuồng và chiếc bẫy kiềng sắt nặng nề đứng trước nguy cơ bị tụt bẫy. Thời khắc ấy chỉ còn cách bắn hạ con hổ. Nếu để nó thoát một là mất của hai là nó quay trở lại tấn công con người. Lúc ấy thật sự sẽ là mối đe dọa khủng khiếp khó lường.
Ông Thẹo Run theo bản tính thợ săn rừng chọn cách bắn hạ con hổ để vừa được của vừa giữ an toàn cho mình và phường săn. Ông nâng súng lên nhằm vào con hổ cái đang lồng lộn để ngắm bắn. Bỗng ông thấy lạnh gáy, buốt dọc xương sống bởi đó là con hổ đang bụng mang dạ chửa. Cái bào thai hổ mà ngâm rượu hoặc nấu cao toàn tính thì quý hơn vàng nhưng bắn hạ con thú vào mùa sinh sản tức là bước qua lời nguyền cũng đã có tới ngàn năm lẻ ở vùng này. Tay ông run lên như phải sài phải gió. Mắt ông nảy đom đóm như có hàng năm mươi con hổ trước mặt đang gầm ghè lao tới. Ông cùng phường săn bỏ của chạy lấy người. Từ đó chẳng hiểu tại sao ông mắc phải cái bệnh run tay lẩy bẩy lúc nào cũng như lên cơn sốt rét. Cái tên Thẹo Run cũng từ đó mà ra.
Ông Thẹo run đang vẩn vơ suy nghĩ về những tập tục của phường săn rừng. Tay ông run run đầu ông cũng gật gật tỏ vẻ chí lý. Cấm săn thú vào mùa sinh sản. Săn được con vật phải ăn chia cho cả cộng đồng. Thì ra đó là một sự dân chủ và công khai trong khai thác nguồn lợi thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học. Muông thú ở rừng không vì máu tham hám lợi thái quá của con người mà đi đến bị tuyệt duyệt, nó còn có đất sống để sinh tồn và duy trì nòi giống của nó chứ.
Tiếng cồng săn im bặt rõ lâu mà không thấy phường săn trở về bản. Mãi xẩm tối mới thấy họ thất thểu trở về. Chó săn không sủa báo tin vui, thợ săn không thấy hỉ hả cười nói. Thì ra họ đã để xổng mất bầy hoẵng vào phút chót, chúng đã nhanh chân chạy thoát qua một khe núi hẹp mà ít ai ngờ tới.
Ra ngóng ở đầu bản, trông cảnh ấy ông Thẹo Run càng ngao ngán. Bỗng ông nhận ra Khà đứng đầu tốp săn đang ôm trên tay hai con vật chỉ nhỉnh hơn con mèo con lông còn tơ mình yếu oặt. Ông hỏi Khà:
- Con gì thế này, lấy ở đâu ra nó?
- Mèo rừng chứ còn gì, nhặt được trong lúc săn đấy, chắc nó lạc mẹ - Khà thủng thẳng đáp.
- Định làm gì với hai con vật non nớt thế này - ông hỏi.
- Đập chết ăn thịt... mỗi người cũng được bát cháo mà húp.
Có cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng ông Thẹo Run. Ông nói với Khà và cánh thợ săn:
- Vào nhà tớ uống nước chè tuyết và hút thuốc lào vặt cái đã vội gì. Tớ muốn xem kĩ hai con vật bé tí này xem nó là giống gì. Cầy không phải cầy, mèo không phải mèo. Bắt được nó cũng phải xem ra tông ra giống, gặp may gặp rủi ra sao đã chứ.
Trong nỗi thất vọng mệt nhọc tốp thợ săn cũng chẳng bụng dạ nào muốn về nhà ngay bèn kéo nhau lên nhà ông Thẹo Run. Ông quẳng ra nửa bánh thuốc lào và một chai rượu ngô nếp cho cánh phường săn tranh nhau tợp và rít. Lúc này dưới ánh đèn soi và ánh lửa ông Thẹo Run mới tỉ mẩn xem khoáy xem khoang xem móng xem mép của đôi con vật. Ông đặc biệt chú ý đến ánh mắt bắt ánh đèn vằn ánh lửa của chúng. Chợt ông giật mình bởi ý nghĩ đây có thể là đôi bạch hổ. Thế rồi ông nói với Khà:
- Nhà có con lợn mọi ba chít tay tôi đổi cho anh và phường săn coi như các anh đã săn được một con lợn rừng vậy. Còn phần tôi nhận nuôi đôi thú hoang bé tí này kẻo nó chết thì uổng quá. Dẫu sao nó cũng là của rừng lộc núi mà.
Được lời như cởi tấm lòng con lợn mọi ba chít tay được chọc tiết đem thui rồi chia ba theo đúng phong tục săn rừng. Đêm ấy dẫu không nhiều nhặn gì nhưng thịt thì luộc, lòng xương nấu canh lóng chuối cả bản cũng đến ăn nếm chia vui và cũng để cười vào mũi cái ông Thẹo Run mang lợn nhà đãi cả bản đổi lấy hai con mèo rừng non choẹt ngoắc ngoải đợi chết để vứt ra rừng.
Những người đến uống rượu chưa cười cợt được bao lâu thì lại tròn mắt thán phục ông Thẹo Run. Biết hai con thú chưa thể ăn gì ngoài bú sữa mẹ, vừa may nhà có con chó cái đang nuôi đàn con mới mở mắt, ông cho nó bú chó. Theo bản năng loài vật khi hai con thú đưa đến chó mẹ run bần bật. Ông phải bịt mắt bịt mõm trói chặt chó mẹ để cho con thú con bú. Sự sợ hãi của chó mẹ mách bảo cho ông đây chính là hai con bạch hổ quý và hiếm của núi rừng Pù Bin. Sau đó ông đem đàn chó con và huấn luyện chó mẹ cho hổ con bú đến khi chúng có thể ăn được thịt tươi sống xé nhỏ mới cai sữa.
Dần dà đôi hổ lớn khôn thoát khỏi thời măng tơ hiện rõ vằn rõ vện và vóc dáng của thú dữ. Người bản gần bản xa đến xem nườm nượp ai cũng bái phục tài nuôi hổ của ông. Tiếng lành đồn xa.
Một hôm có hai cán bộ từ vườn quốc gia Rừng Cúc tới sau khi xem kỹ đôi hổ hú này đã to gần bằng con chó nhỡ, họ nói:
- Hổ bạch là hình thức biến đổi gen, chứ không phải có giống ấy thế mới quý. Cách đây ba mươi năm ở Rừng Cúc đã vắng bóng hổ bạch. Nay chúng tôi xin gia đình cho được mua lại đôi hổ này đem thả vào đó. Gọi là mua cho phải phép thôi chứ tiền ngân sách cũng chỉ gần đủ công nuôi dưỡng chăm sóc của gia đình thôi.
Suy tính hồi lâu rồi ông nói với họ:
- Nhà tôi không buôn cọp bán hổ. Thấy đôi hổ non nớt thả rừng sẽ chết tôi bỏ công bỏ của để cứu hộ cho nó thôi. Nhưng nếu các anh có thả vào rừng lúc này thì cũng khối kẻ lại săn bắn nó. Hãy cứ để đây tôi nuôi chúng. Kể cả sau này nếu nấu cao làm thuốc trị bệnh cứu người thì cũng là có ích chứ sao.
Không thuyết phục được ông, hai cán bộ Rừng Cúc đành phải quay về tay trắng.
Đoàn xiếc nọ cho người lên đàm phán với ông để mua đôi hổ lạ về huấn luyện biểu diễn xiếc thú. Ông Thẹo Run chối phắt:
- Tôi xem trên ti vi biết hết rồi. Giao hổ cho anh để anh thường xuyên cho nó nếm đòn roi điện à. Sao các người độc ác với các con vật như thế. Đời thiếu gì cách kiếm tiền mà lại đi ăn tiền bằng cách làm tình làm tội các con vật đáng thương kia. Không đời nào.
Bó tay, người của đoàn xiếc nọ lại về không. Được một dạo vườn thú lại cho người tới nài nỉ, ông bảo:
- Tôi chả dại để hai con hổ bị cầm tù trong cũi sắt suốt đời đâu. Các anh bỏ đói bỏ rét chúng, bắt chúng cô đơn cô độc suốt đời mà được à. Sao các anh nỡ nhẫn tâm thế.
Họ đành tiu nghỉu ra về. Một người có thế lực lại đến dụ dỗ họ đầu tư vốn và bảo lãnh để ông tiếp tục nuôi đôi hổ sau này lời lãi chia đôi. Họ ra về rằng nếu bán hổ sống cho tay chơi có hạng thì vô giá. Cầm bằng bán hổ chết tiền da, tiền cao cũng một vốn bốn lời.
Từ chối thẳng thừng những lời ve vãn đường mật và những lợi lộc vẽ ra từ đôi hổ, ông Thẹo Run càng chăm sóc nuôi dưỡng chúng tốt hơn. Hai đứa hổ phổng phao dũng mãnh như thể đang sống ở bầy đàn chốn rừng rậm. Ông Thẹo Run chợt thoáng buồn vì biết mình không thể bao nổi một đôi hổ ở tuổi trưởng thành và nó cần có đất sống của nó để tự khẳng định sự tồn tại trong trời đất. Sau bao ngày trăn trở, ông mới nhắn xuống Ban quản lý vườn quốc gia Rừng Cúc.
Đôi hổ được thả về rừng sau một thời gian được Ban quản lý vườn quốc gia Rừng Cúc cho làm quen với săn bắt mồi trong môi trường sinh thái tự nhiên.
Người bản Vãng, bản Văn, bản Lác lại có dịp cười cợt ông Thẹo Run cho là gàn gở. Của đến tay lộc đến nhà còn đem thả ra rừng. Có người gặng hỏi sao thế, ông cười:
- Thì cũng như tôi đã nuôi con bò con lợn vậy thôi. Nuôi bò nuôi lợn để giết thịt vậy thì nuôi hổ để thả vào rừng chứ ai đời nuôi hổ để thịt bao giờ. Hổ mà không sống ở trong rừng thì còn gì là hổ nữa. Người mà không sống cùng với cộng đồng con người thì thử hỏi có còn ra người nữa không?
Cũng từ đó đêm đêm người dân bản Vãng, bản Văn, bản Lác nếu yên ắng lắng nghe thì họ đều cảm thấy dường như có tiếng gầm của hổ bạch vọng về từ Vườn quốc gia Rừng Cúc. Tiếng vọng ấy không gợi lên vẻ sợ sệt kinh hãi về loài ác thú. Nó báo hiệu sự tồn tại của đa dạng sinh học nơi những cánh rừng nguyên sinh xa lắc điểm tựa cho cuộc sống yên ấm của các bản làng.
Thanh Xuân cuối năm 2009
N . Q . H
|