Trang chủ Thông tin tòa soạn Liên hệ tòa soạn
Thứ năm, 9/9/2010 | 11:09:17 PM
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Cu-ba phát hành sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh
...
xem tiep
Tin tức & Sự kiện
Trang Văn
Nghiên cứu-Phê bình-Lý luận
Trang Thơ
Đời sống văn học
Chân dung và Đối thoại
Ý kiến Nhà văn
Nhà văn và Cuộc sống
Văn học nước ngoài
Chuyện nghề
Sáng tác Trẻ
Sách mới
Hà Nội 1000 năm
Trực tuyến 24/24
Tản văn thế sự
Thông tin & Tư liệu
Sắc hương cuộc sống
Trong các ngành nghệ thuật
Nhịp cầu văn chương
Dặm dài đất nước
Mừng thọ Ðại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi
Năm nay, mùa thu này Ðại tướng ở tuổi 100 (tuổi xưa nay rất hiếm):
...

» xem tiếp

12g55 hôm nay, GS Ngô Bảo Châu chính thức đoạt giải toán học Fields

Cách mạng tháng Tám

Hội thảo “Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực đất nước hôm nay”

Lễ giao nhận hiện vật bảo tàng văn học Việt Nam

Văn học đến với du lịch Việt Nam

TRANG CHỦ
Cứu vớt tộc người La Hủ
ĐỖ HOÀNG ( 3/9/2010 11:07:23 AM )

Cách bản Ló Na khoảng trăm mét đi xuôi con dốc là đường rẽ lên đến bản Là Si. Nói là có đường tới bản nhưng thật ra giữa trùng trùng xanh ngắt thăm thẳm kia khó mà hình dung ra con đường nó như thế nào. Tôi nhìn xuống thung sâu vời vợi, rồi ngước lên dãy núi cao chất ngất có mây trắng che mờ đỉnh cũng chẳng thấy một lối mòn sợi chỉ nào giăng qua, nói chi đến đường quan vừa rộng vừa dài nhìn thẳng tận chân trời như dưới xuôi. Tất cả đều ảo huyền mờ mờ nhân ảnh trong màu mây trắng bồng bềnh lang thang ở giữa một rừng xanh ngút ngàn thăm thẳm cổ xưa. Đây là một trong những dãy núi chót cùng của Tây Bắc nghìn trùng. Có thể nói chốn này là nơi sơn cùng, thuỷ tận đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nhìn trên bản đồ nước Việt vị trí đây cũng là một điểm cao tột đỉnh phía Tây Bắc. Là Si là một bản biên giới nằm sát cửa khẩu Ma la tu khoòng. Theo các nhà địa chất học thì những dãy núi này đều thuộc kỷ Đê von nghĩa là cách chúng ta hôm nay trên ba, bốn trăm triệu năm. Núi ở đấy rất cao, độ cao trung bình đều gần 2.000 mét. Một đặc điểm nữa là núi có vách dựng đứng. Nhìn những thảm lúa xa mờ như một ô cờ vuông xanh lục treo lơ lửng lưng chừng trời thì biết vách núi dốc ngược đến mức nào!

Thời tiết đang đầu hạ mà ở đây khí hậu gần như cuối thu. Lạnh và se.

Tôi chạnh nghĩ trước đây dăm năm vùng biên cương này chưa có đường ô tô tới huyện, tới xã thì bà con, cán bộ, bộ đội đi lại vất vả nhường nào! Làm sao mà đi được trên những dãy núi điệp điệp trùng trùng và dưới những con suối, con khe sâu hun hun hút như thế này?

Thế mà các tộc người trên rẻo cao đã sinh cơ lập nghiệp ở đất này tính ra đã có hàng nghìn, hàng vạn năm nay. Từ khi cha ông lập nước những người lính thú ngày xưa và cán bộ, bộ đội bây giờ đã có mặt cùng với đồng bào dân tộc đồng cam, cộng khổ giữ gìn biên cương.

Đây là lần thứ ba tôi đi công tác theo cùng các nhà báo báo Biên Phòng. Lần thứ nhất đi tuyến Hà Giang, lần thứ hai đi tuyến Bắc Luân và lần này đi tuyến Tây Bắc, trọng tâm là đến bản Là Si, bản có tộc người La Hủ đang cần được cứu vớt.

Tôi chưa mường tượng ra bản Là Si và người La Hủ như thế nào? Đây là lần đầu tiên tôi mới nghe đến tên tộc người La Hủ có trong cộng đồng 54 dân tộc trên dải đất Việt. Họ có giống người Chức, người Đan Lai ở Hà Tĩnh hay người Rục ở Quảng Bình quê tôi không? Bước sang thế kỷ XXI rồi mà vẫn còn có tộc người còn ăn lông, ở lỗ?

Anh Khương tuy xuất thân là cán bộ chỉ huy đồn biên phòng nhưng cũng chưa một lần tới bản Là Si, gặp người La Hủ. Anh bảo:

- Khắc đi khắc biết, khắc đi khắc đến.

Tôi cũng nghĩ vậy. Mình phải đi đến tận nơi, phải quan sát đời sống, sinh hoạt, tập tục của đồng bào thì mới viết được. Chỉ nghe báo cáo cũng chưa đủ.

Những năm qua, nhất là từ khi tách tỉnh Lai Châu và Điện Biên (1-1-2004), cùng với các cấp, các ngành của địa phương, bộ đội Biên Phòng Lai Châu đã tham gia có hiệu quả vào việc củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo quốc phòng an ninh ở các xã biên giới. Bộ mặt kinh tế - xã hội các xã biên giới đã có những chuyển biến tiến bộ: cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm, hệ thống kênh mương tưới tiêu nước sạch... được đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Trong đó có một số mô hình có hiệu quả như đã xây dựng 38 nhà đại đoàn kết trên địa bàn 21 xã biên giới đặc biệt tập trung xây dựng 18 nhà cho đồng bào La Hủ ở hai bản Là Si, Hà Nê xã Pa Ủ huyện Mường Tè. Đồng bào La Hủ được Nhà nước hỗ trợ mỗi khẩu mỗi tháng được 10 kg gạo. Bà con La Hủ hai bản Là Si, Hà Nê dưới sự giúp đỡ của các ban ngành và bộ đội Biên Phòng đã ổn định cuộc sống đã được chăm sóc y tế, được học chữ phổ thông.

Một thuận lợi cho chúng tôi là lần này chúng tôi cùng đi với Đoàn công tác Liên hợp của bộ đội Biên phòng Lai Châu gồm quân số lấy các đồn biên phòng: Ka Lăng (311), Pa Ủ (319), Fa Vầy Ủ (317) và cán bộ trên tỉnh xuống tăng cường. Đoàn công tác gồm 16 đồng chí. Kể cả tôi và anh Phạm Thanh Khương nữa là 18 người. Riêng bộ đội họ là những cán bộ, chiến sĩ đã có thành tích và kinh nghiệm trong việc vận động quần chúng bà con dân bản định canh, định cư, có kinh nghiệm đi rừng, giỏi chịu dựng gian khổ, thiếu thốn. Một số cán bộ là người miền núi có thể phiên dịch được.

Đoàn công tác đã chuẩn bị lương thực, thực phẩm, thuốc men để bám trụ lâu dài. Theo kế hoạch 16 cán bộ, chiến sỹ của Đoàn công tác sẽ ở hết mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2009) rồi luân chuyển cán bộ chiến sỹ thay nhau vào bản. Trước mắt làm tiền trạm để anh em vào sau giúp bà con dựng 24 nhà dân, làm 1 trường học, 1 trạm y tế cho bản, kết hợp với giao thông mở đường vào Là Si.

Đường vào bản Là Si muôn trùng hiểm trở và nguy hiểm!

Thời thiếu niên vượt núi đèo đi học sơ tán ngoài Bắc, thời bộ đội chống Mỹ hành quân băng Trường Sơn, tôi chưa bao giờ phải vượt dãy núi nào có nhiều đỉnh núi cao chất ngất dựng ngược như vậy. Càng lên cao càng khó thở. Bước dốc chưa quá năm bước đã phải đứng thở năm phút mới bước tiếp được. Khi đến bản tôi mới nghe bộ đội cho biết rằng vì sao leo dốc khó thở là vì càng lên cao không khí càng loãng, thiếu ô xy nên ai cũng tức ngực.

Tôi phải nhờ các chiến sỹ trẻ cầm túi, cầm mũ mới chống gậy leo tiếp lên dốc. Cứ lên một bậc dốc là mặt chạm với vách núi sừng sững. Cảnh tượng chẳng khác gì đường vào nước Thục mà thi hào Lý Bạch đã mô tả cách đây mấy nghìn năm trước: “Kiến thuyết Tam Tùng lộ / Kỳ khu bất dị hình / Sơn tòng nhất diện khởi / Vân bạng mã đầu sinh!”. Tạm dịch: Nghe nói đường vào Thục / Dốc đèo rất chênh vênh / Núi ngàn dựng trước mặt / Đầu ngựa mây bồng bềnh!)

Tôi tin là không nơi nào hiểm trở như đường vào Là Si!

Người La Hủ có nhiều tên gọi như: Xá Lá Vàng, Cò Xung, Khù Sung, Khả Quy, Cọ Sọ, Nê Thú. Nhóm địa phương có La Hủ na (đen), La Hủ sư (vàng), La Hủ phung (trắng). Tên tự gọi: Ladhulsi hay Kawzhawd.

Ngôn ngữ của người La Hủ gần nhất với ngôn ngữ của người Di, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến của hệ ngôn ngữ Hán - Tạng.

Người La Hủ chủ yếu làm nương sống du canh, du cư với nhịp độ luân chuyển cao. Người La Hủ nổi tiếng với nghề đan lát (mâm cơm, ghế mây), rèn. Săn bắt, đánh cá, hái lượm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế.

Người La Hủ không có truyền thống trồng bông. Trước đây phụ nữ thường đem thịt thú rừng, nấm hương, thuốc phiện và các lâm thổ sản quý để đổi lấy vải vóc của các dân tộc khác để may áo mặc. Phụ nữ mặc quần áo dài. Mặc hai lớp áo, áo trong tay dài, cài khuy bên nách phải, áo ngoài tay ngắn cài khuy giữa ngực. Ngày thường họ chỉ mặc áo dài, ngày lễ tết mặc thêm áo ngắn ra ngoài.

Người La Hủ trước kia sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, săn bắn, hái lượm nay nhờ giúp đỡ của nhiều cơ sở chính quyền địa phương họ đã biết làm lúa nước, lúa nương.

Người La Hủ cư trú phân tán thành nhiều xóm nhỏ với thành phần cư dân thay đổi thường xuyên do lối sống du canh. Xã hội chưa có sự phân hoá giàu nghèo. Người phụ nữ được tôn trọng trong gia đình song ít có vai trò xã hội.

Tập tục cưới xin, hôn nhân gia đình khá đơn giản. Người con trai mới được thừa hưởng của cải của cha mẹ. Trai gái tự do yêu nhau, lấy vợ lấy chồng với người khác họ. Lễ cưới đòi hỏi chú rể phải nộp đủ 6 con sóc, 10 con chuột. Tục ma chay càng đơn giản hơn. Người chết được chôn trong quan tài độc mộc. Trong nhà có người ốm, người chết, trước kia người ta bỏ nhà ra đi luôn...

Thời xa xưa, người La Hủ cũng như các tộc Miêu, Thổ, Mán đều có quốc gia riêng. Nhưng sau những thiên biến lịch sử vì chiến tranh loạn lạc họ bị phân tán đi nhiều nơi. Ở việt Nam có khoảng 6.874 người La Hủ (theo điều tra năm 1999), chủ yếu sống ở huyện Mường Tè. Ở Trung Quốc người La Hủ còn có tên là Lạp Hỗ. Người Lạp Hỗ ở Trung Quốc có khoảng hơn 410.000 người, chủ yếu sống ở Vân Nam. Thái Lan cũng có khoảng 25.000 người, họ là một trong số 6 bộ tộc miền núi của nước Thái. ở Lào theo số liệu điều tra năm 1985 có khoảng 15 618 người La Hủ sinh sống. Ngoài ra ở My-an-ma cũng có một số ít người La Hủ lập nghiệp. Chủ yếu sống ở vùng núi cao hiểm trở.

Sau gần bảy tiếng đồng hồ leo núi, chúng tôi đã đến được bản Là Si. Từ lưng chừng núi nghe tiếng chó sủa, bao nhiêu mệt nhọc như được tiêu tan. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Bước xuống độ ba mươi phút tôi thấy mấy cái nhà tranh vàng hoe loi nhoi hiện ra. Thật là mừng. Nếu đi tiếp hai giờ đồng hồ nữa thì còn nhiều người phải rớt lại đằng sau!

Là Si, bản của tộc người La Hủ, bản biên giới tột cùng phía bắc của Tổ quốc. Bản Là Si chót cao gần như bản Lũng Cú tột bắc bên Hà Giang.

Bản Là Si có 100% là đồng bào dân tộc La Hủ với 41 hộ, 212 khẩu, đời sống sinh hoạt chủ yếu là tự cung, tự cấp, sống dựa vào thiên nhiên là chính. Tỷ lệ đói nghèo là 100%. Dân bản hầu hết mù chữ và không nói được tiếng phổ thông.

Vừa đến bản, các cán bộ chiến sỹ bộ đội Đoàn công tác đã triển khai ngay công việc. Bộ phận cơ yếu bắt cột ăng ten thu sóng, kiểm tra lắp đặt máy móc chuyên dụng để liên lạc với trung tâm. Bộ phận khác vào rừng chặt gỗ làm nhà, dựng lán ở, làm máng lấy nước sạch, làm nhà vệ sinh, quét dọn bản, cắt tóc, giúp tắm rửa cho trẻ con... Bộ phận hậu cần lo cơm nước. Công việc đâu ra đấy, gọn gàng ngăn nắp. Thật là một đội quân có nghề, giỏi giang tinh luyện.

Tôi vừa tò mò, vừa chú ý quan sát nhìn người La Hủ và nhà cửa, chỗ ở cách sống của họ. Người La Hủ khác người Rục, người Vân Kiều quê tôi. Người Rục thấp đậm đen chắc còn mang nét người rừng. Người Vân Kiều to đậm, đen cháy, bắp cơ cuồn cuộn rắn như gỗ lim. Người La Hủ gầy mảnh, da vàng vàng, nhạt nhạt. Bắp cơ, bắp chân không phát triển. Đàn ông ngoài 20 tuổi mặt gầy trông giống người Nguồn vùng Minh Hoá, Quảng Bình mà những năm học sơ tán ngoài Bắc đi qua miền ấy tôi đã từng chứng kiến. Nguyên do là họ thiếu lương thực, thực phẩm triền miên từ đời này sang đời khác.

Bà con La Hủ ăn ở thiếu vệ sinh, không giếng nước, không nhà cầu, không chậu đựng nước. Từ trẻ con đến người già không tắm, rửa, không thay áo quần. Áo quần mặc đến khi nào rách thì thôi. Da dẻ ai cũng sần sùi đen như trăn mốc. Ghét, rỉ từ năm này qua năm khác đóng thành vảy, thành lớp.

Chỗ Đoàn công tác đóng quân là chòm The La Cồ. The La Cồ trước đây có 15 hộ, 15 nhà 69 khẩu nhưng giờ chỉ có 5 hộ, 5 nhà, 25 khẩu. Một số hộ vừa đi cách đây không lâu. Trên những nền đất nhà hoang bỏ lại còn chỏng chơ cọc tre tháo dở, chặt dở. Người bỏ bản ra đi như con chim rừng đã bay đến đến vùng rừng hoang vắng nào rồi, chắc cũng xa xôi heo hút chẳng khác gì bản Là Si mà chỉ có người trong bản của họ mới biết được.

Bản Là Si có bốn chòm, hai chòm nằm bên sườn núi Là Si, hai chòm nằm bên sườn núi A mô cồ. Núi A MA CỒ cao không kém núi Là Si. Qua hết đỉnh A MA CỒ là đến biên giới Việt - Trung. Bên kia đất bạn là tỉnh Vân Nam. Chúng ta có bay trên cao cũng không nhận ra bản Là Si có người sinh sống. Một số nhà lẩn khuất dưới bóng rừng già không thể trông thấy, một số phơi ra trên những sườn núi cao chót vót như một cái chòi canh bỏ hoang. Giữa điệp trùng non thẳm, suối sâu làng bản như một dấu chân hoẵng lạc rơi giữa đại ngàn, có ai mà đến được và biết được ở đấy vẫn còn con người sinh sống.

Bốn chòm của bản Là Si đều nằm rải rác. Chòm này đến chòm kia gần nhất cũng bốn kilômét, xa nhất là 12 kilômét. Mỗi chòm thường có từ 8 nhà cho đến 12 nhà.

Gọi là nhà nhưng đâu phải cái nhà như trong tâm tưởng của mọi người. Nó còn thua cái trại vịt dưới đồng bằng.

Hơn chục năm trước lên Tuyên Quang đến thăm nhà đồng bào dân tộc tôi thấy nhà chỉ có tranh tre, lá nứa. Từ buộc xà, khớp kèo, ghép đòn tay không một dấu tích sắt thép, tôi đã nẫu lòng không ngờ rằng cuối thế kỷ XX trên đất mước ta vẫn có những vùng còn ở thời đồ đá. Tuy thế nhà đồng bào dân tộc ở Tuyên Quang còn to rộng, còn có sàn đủ cho hai mươi người ngồi uống rượu.

Còn ở La Hủ này cái nhà chỉ có sáu mét vuông một người lách vào đã chật làm sao mà bộ đội ở nhờ. Đúng như lời các cán bộ ở đồn biên phòng cho chúng tôi biết trước.

Rừng Là Si là rừng nguyên sinh, chưa có dấu người khai thác, nhưng người La Hủ làm nhà không dùng gỗ. Họ chỉ lấy tre, nứa, luồng làm cột kèo rui mè, rồi dùng tranh, lá chuối lợp lên trên mái để che mưa che nắng. Trong cái nhà sáu mét vuông ấy được chia làm hai nửa có thưng liếp nứa ngăn cách. Một nửa để ngủ, một nửa để làm bếp. Trên giàn bếp có treo một số da thú, chân thú nhỏ làm thức ăn khi rừng động. Khách khứa, ăn uống đều diễn ra tại đây. Nhìn quanh nhìn quách, trông lên ngó xuống, tôi không tìm ra một thứ gì đáng giá mười ngàn đồng, trừ cái núc kiềng đã bị lửa ăn mòn qua bao mùa đông giá lạnh của cực Bắc. Nét hiện đại duy nhất có ở bản Là Si là mấy cái quần, cái áo kiểu sơ mi mua được ở các chợ biên giới. Chòm The La Cồ có năm nhà thì nhà nào cũng giống nhà nào. Chỉ có một nhà duy nhất mái lợp bằng tôn do bộ đội chuyển vào ủng hộ  đồng bào La Hủ.

Mấy hôm nay dân bản Là Si đi vắng khá nhiều. Người sang các bản thăm bà con, người đi chợ, kẻ đi nhận gạo Chính phủ. Tuy thế chòm The La Cồ còn có ông Pờ Lá Sả trưởng chòm và một số trẻ con, thiếu phụ ở nhà.

Mới 38 tuổi nhưng ông Pờ Lá Sả là già làng, trưởng bản. Vì ông để râu quặp vào như râu dê vừa lại ăn uống đói kém thất thường quanh năm, rồi hút thuốc, uống rượu liên miên nên trông ông như ông lão sáu mươi. Mấy ngày ở Là Si tôi chỉ thấy ông hết hút thuốc lại ngủ. Ông ngủ trong cái buồng kín như buồng đẻ rộng chỉ mét rưỡi vuông. Có một chiều thấy ông ngồi dậy cho con lợn nhỏ như nắm tay uống nước. Hình như ông sợ người lạ. Trước khi đến với tộc người La Hủ, nhiều cán bộ biên phòng cho biết, có nơi đồng bào thấy người lạ là họ đem con cái chạy vào rừng. Không biết bà con Là Si thấy chúng tôi họ có chạy vào rừng không?

Đoàn công tác Liên hợp bộ đội Biên Phòng tỉnh Lai Châu triển khai làm lán ở để giúp dân La Hủ bản Là Si dựng nhà, trường học, trạm xá

Đợi mãi đến hôm sau nhờ thiếu uý Lừ Mù Chư người Hà Nhì cán bộ đồn biên phòng Thu Lũm làm phiên dịch tôi mới tiếp chuyện được với ông trưởng chòm Pờ Lá Sả.

Ở đây không ai biết tiếng La Hủ, ngay như thiếu úy Lừ Mù Chư cũng chỉ nói tiếng Hà Nhì với ông Sả. Người La Hủ nghe hiểu được tiếng Hà Nhì Anh Chư cũng không biết được tiếng La Hủ. Qua lời phiên dịch của anh Chư tôi biết ông Sả có vợ, bốn con. Ba đứa con đang ngồi trước mặt tôi, một đứa con út bà Sả địu đi thăm họ hàng ở bản Ủ Ma từ ngày hôm trước. Vợ ông Sả tên Lì Se Pứ người cùng bản, năm nay 33 tuổi. Mỗi năm hai vợ chồng làm được 15 bao thóc 30 bao ngô, khoảng 1 tạ đổ lại. Gia đình ông thiếu ăn, phải sống nhờ trợ cấp gạo của Chính phủ. Từ nhiều năm nay đồng bao La Hủ trên rẻo cao đều được Nhà nước bán cho mỗi khẩu 10 ki lô gam gạo.

Tôi hỏi:

- Ông đói như vậy sao không đi lấy gạo Chính phủ mà ăn?

Qua lời phiên dịch của anh Chư, ông trả lời:

- Gạo nhiều nặng không gùi hết được, chỉ gùi mấy cân để ăn thôi.

- Số gạo còn lại để đâu? - Tôi hỏi

- Đổi rượu hết! Đổi rượu cho khỏi phải gùi vào nhà! - Ông Sả đáp.

Tôi hiểu vì sao từ lâu Nhà nước cấp không gạo cho đồng bào La Hủ mà đồng bào vẫn đói dài dài, hoá ra là họ đem gạo đổi rượu. Họ có nhiều lý do, trong đó lý do là gạo nặng, đường xa dốc đèo không ai mang nổi gạo để ăn. Thà chạy vào rừng kiếm củ mài, con chuột nhanh hơn và nhẹ nhàng hơn.

Tôi thầm nghĩ:

- Thật trời cũng không cứu nổi!

Nhưng bộ đội cứu giúp người La Hủ đã có nhiều cách để đưa gạo tận từng nhà mà bà con không thể đổi rượu hoặc bán đổ trên đường đi nhận gạo.

Bộ đội đã áp dụng ở Hà Si, Hà Nê và sẽ áp dụng ở Là Si bây giờ. Bộ đổi sẽ tự mình chuyển gạo tiêu chuẩn của dân đến doanh trại của mình, hàng tháng phát cho đồng bào theo nhân khẩu. Có như thế đồng bào mới không đổi rượu, có như thế mới cứu đói được đồng bào!

Dù gánh nặng dồn lên vai bộ đội nhưng sẽ cứu được tộc người La Hủ!

Ông Pờ Lá Sả là trưởng chòm The La Cồ, ông Lì Mò Dá 40 tuổi cũng có bốn con là trưởng bản Là Si.

Các con của ông Sả cũng như hơn chục đứa trẻ mà tôi thấy ở chòm The La Cồ đêu ốm o xo bại, đen đúa, nhớp nhúa. Đứa nào cũng rỏ dãi, mũi thò lò. Quanh năm không tắm giặt, áo quần không thay đổi. Đứa con gái lớn của ông Sả trông hiền hậu thật thà đã 12 tuổi rồi mà nhỏ hơn đứa trẻ lên năm. Hai đứa kia đều ngang đầu nhau lích nhích một loạt. Còn thằng bé câm không biết con nhà nào thấy chúng tôi và bộ đội cứ quẩn quanh xin ăn, nó cũng đã đến mười bốn, mười lăm nhưng cao gầy như một đứa bé sáu bảy tuổi. Trông nó không khác một con khỉ trên rừng. Những đứa trẻ hoang dại ở đây và kể cả người lớn không được học hành, không ai biết chữ, không nói được tiếng phổ thông. Ngay cả những phụ nữ, thiếu nữ Hà Nhì đi chuyển hàng cho bộ đội cũng không hề biết chữ. Huống hồ những đứa trẻ La Hủ. Biết lúc nào các cháu mới lớn nổi thành người nếu như không có bộ đội và nhân dân đến cứu!

Bước sang thế kỷ XXI gần 10 năm, nhiều quốc gia phát triển báo động quốc nạn thừa ăn, béo phì, nhiều dân tộc lo lắng diệt vong vì béo phì mà trên đất này vẫn còn có tộc người sống hầu như chỉ bằng săn bắt, hái lượm với nguy cơ diệt vong rất lớn vì đói khổ, bần hàn, thiếu ăn, thiếu mặc và trăm thứ thiếu khác.

Bao nhiêu đời thiếu ăn thiếu mặc, giờ người La Hủ nhỏ hơn người dưới xuôi. Thanh niên của họ chỉ bằng thiếu niên người Kinh. Không chỉ người La Hủ mà các dân tộc miền núi như người Hà Nhì, người Dao, người Mèo, người Mãng... đang ngày một thấp nhỏ hơn. Nguy cơ thoái hoá đến mức báo động SOS!

Biết bao nguyên nhân mà không thể kể hết: chiến tranh, thiên tai bão lũ và tập tục lạc hậu du canh, du cư, chây lười đã tàn hại cộng đồng tộc người La Hủ và nhiều tộc người khác.

Người Mông có câu hát rất hay: Người giàu đi mãi thì thành kẻ nghèo, người nghèo đi mãi thì thành con ma rừng. Người La Hủ nếu còn đi nữa thì cũng rất dễ thành con ma rừng, đến một ngày không xa tộc người này sẽ diệt vong như các loài chim, loài thú quý hiếm khác trên trái đất đã từng diệt vong!

Vì vậy đề án cứu giúp người La Hủ ổn định dân cư, xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế văn hoá xã hội gắn với bảo vệ chủ quyền biên giới là một đề án kịp thời mang nhiều ý nghĩa nhân sinh, xã hội lớn lao không chỉ có tầm quốc gia mà còn có cả tầm nhân loại!

Và hôm nay 5 giờ chiều ngày 27-5-2009 chiếc máng lấy nước sạch từ vách núi đá, nhà vệ sinh và chiếc lán dã chiến rộng khoảng 18 mét vuông được phủ bạt nhựa sọc dựng hoàn thành. Riêng chiếc lán đủ che mưa, che nắng cho gần 20 cán bộ chiến sỹ bộ đội có thể ăn ở lâu dài để giúp dân dựng nhà, làm trường học, trạm xá cho bà con La Hủ. Bà con La Hủ bản Là Si sẽ sinh sống đời đời nơi quê hương, bản làng của mình. Những đứa trẻ khốn khó hôm nay sau này sẽ trở thành những nhà khoa học, nhà giáo, nhà văn, nhà quản lý phục vụ cho quê hương của mình. Đó là điều hiện thực! Bữa cơm tối đầu tiên của quân dân gồm 16 cán bộ chiến sỹ bộ đội Biên Phòng Lai Châu, 2 nhà báo, 8 bà con vận chuyển, ông trưởng chòm The La Cồ là Pờ Lá Sả và dân bản... đã được khai trương trong lán dã chiến.

Mùi rượu ngô thơm nồng tận mũi gắn bó tình quân dân không sao nói hết nỗi cảm mến lòng người.

Chị Lì Zố Sừ cùng bảy anh chị em khác trong bản Lõ Na giúp bộ đội vận chuyển lương thực, thực phẩm vào bản Là Si được chúng tôi đề nghị chị hát lại bài hát Bản Là Si lúc chiều khi vượt qua đỉnh dốc cao nhất. Lúc chiều tôi chưa rõ lời bài hát nghĩa như thế nào nhưng nghe giọng hát của chị Sừ và giai điệu thanh âm của nó thật hay, thật mượt mà, quyến rũ như bản Tình ca Tây Bắc.

Chị Sừ qua mấy giây rụt rè mới bắt đầu tự nhiên hát: Là Si chu tề / Là tư mi chà / Là tư Là Si mì / Tha ki mì cha / La Si su te nè / Ngà tư mì cha mì / Bộ đội mì cha mì / Mì ma chu kho!...

Thiếu úy Lì Mù Chư phiên dịch lời bài hát cho chúng tôi nghe:

Đất Là Si này là đất của ta / Đất của ta, đất Là Si đất của người La Hủ / Núi sông, đất đai của ta hết / Bộ đội đến giúp, cuộc sống người La Hủ thêm đẹp tươi!...

Mọi người vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và đề nghị hát lại lần nữa.

Tôi nghĩ rằng bài hát này mới sáng tác cũng chưa quá năm sáu mươi năm như bài Tình ca Tây Bắc. Giai điệu của nó chắc là lấy trong dân ca của người La Hủ nên nó mới đi vào lòng người như vậy.

Trên dải biên cương phía Bắc này có thêm một tộc người nữa được cứu vớt. Họ sẽ còn mãi như dân ca La Hủ cùng trường tồn với nước Việt.

 

Hà Nội, ngày 9-6-2009

Đ . H

[ Print this page ]In bài   Trang trước [ Top page ]Đầu trang


Gửi ý kiến
Họ tên
eMail
Điện thoại
Địa chỉ
Nội dung:
   
Các bài mới
   Phạm Ngũ Lão- Vị Tướng Xuất Thân Từ Nông Dân (11/3/2010)
  Vườn Lan Hà Nội(27/4/2010)
  Vị tướng thời bình(27/4/2010)
  Bác Hồ qua lời kể của nhà giáo Hồ Mộ La(17/5/2010)
  Bút ký: Cửa Đạt(21/5/2010)
  Mênh mang dòng đời(21/5/2010)
  Bayon – nụ cười bí ẩn…(21/5/2010)
  Con người của hai vùng đất(24/6/2010)
  Trò chuyện với Trần Lưu Hậu(24/6/2010)
  Bút ký: Làng ơi! Ruộng ơi!(30/6/2010)
Các bài đã đăng
  Không gian văn hóa quan họ trong thơ Hoàng Cầm(9/3/2010)
  Hồ Xuân Hương với những khát vọng sống cá nhân(9/3/2010)
  Văn chương chăm lo sự sống và làm cho người gần người hơn(9/3/2010)
  Hồn xuân(9/3/2010)
  Nhiệm màu(9/3/2010)
  Cây ổi(9/3/2010)
  Nhớ(9/3/2010)
  Thoáng Xuân Mù-căng-chải(9/3/2010)
  Trở lại mùa xuân(9/3/2010)
Tìm kiếm
Trao đổi
Văn học và nhà trường : Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Văn
Bàn thêm về sáng tạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều qua đoạn trích Trao Duyên
" TỰA" - MỘT BÀI THƠ CÓ TẦM
Di sản văn học
Một câu lạc bộ thơ Việt 700 năm trước
Vũ Đình Long - người khởi động và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa
sách "Về chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh"
 TẠP CHÍ NHÀ VĂN
 THỐNG KÊ

 
 
 
 
© TẠP CHÍ NHÀ VĂN VIỆT NAM
Địa chỉ: 65 Nguyễn Du - Hai Bà Trưng - Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại: (84-43) 9423111 * Fax: (84-43) 9429387
Email: tapchinhavan@fpt.vn
Tổng biên tập: Nguyễn Trác
Phó tổng biên tập: Vũ Đảm
Giấy phép số 108/GP-BC, ngày 19-03-2008.
Tạp chí Nhà văn Việt nam giữ bản quyền nội dung trên website này.
Xây dựng, phát triển: iDesign